Duyệt theo bộ sưu tập Tất cả (Tất cả)
Xây dựng thuật toán phát mẫu ngẫu nhiên theo phân phối Birnbaum-Saunders ba thamsố và ứng dụng trong mô phỏng chiều dày bê tông phun

Mô phỏng số Monte Carlo là một công cụ quan trọng trong phân tích độ tin cậy kết cấu, trong đó việc mô hình hóa chính xác các biến ngẫu nhiên đầu vào đúng vai trò quyết định. Đối với những đại lượng thực tế có miền giá trị dương và tồn tại ngưỡng tối thiểu, phân phối Birnbaum- Saunders ba tham số (BS(3P)) tỏ ra đặc biệt phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu các thuật toán phát mẫu ngẫu nhiên dành riêng cho phân phối này, gây hạn chế trong các nghiên cứu ứng dụng. Bài báo này trình bày việc xây dựng một thuật toán phát biến ngẫu nhiên tuân theo phân phối BS(3P) dựa trên thuật toán phát mẫu của phân phối BS hai tham số đã có sẵn. Thuật toán được phát triển theo phương pháp biến đổi ngược và được kiểm chứng thông qua một bài toán thực tế: môn phỏng chiều dày bê tông phun trong kết cấu chống đỡ ban đầu của đường hầm. Dữ liệu thực nghiệm gồm 1.546 giá trị đo đạc cho thấy phân phối BS(3P) là mô hình phù hợp nhất. Kết quả mô phỏng với các cỡ mẫu khác nhau chứng minh thuật toán đề xuất có độ chính xác cao, sai số giảm dần theo cỡ mẫu và có khả năng hội tụ tất về các tham số và đặc trưng thống kê lý thuyết, đáp ứng yêu cầu cho các bài toán phân tích độ tin cậy bằng môn phỏng Mante Carlo.

Bê tông tự lèn sử dụng cốt liệu tái chế từ phế thải xây dựng

Cốt liệu tái chế (CLTC) từ phế thải xây dựng đã được nghiên cứu sử dụng nhiều trên thế giới cũng như tại Việt Nam để làm móng đường giao thông, vật liệu gia cố nền đất, cốt liệu cho vữa và bê tông..Tuy nhiên do hạt CLTC có độ rỗng và độ hút nước lớn, cường độ cơ học thấp, khả năng liên kết với đá xi măng kém hơn so với cốt liệu tự nhiên (CLTN), vì thế bê tông chế tạo từ CLIE thường có chất lượng thấp hơn so với bê tông thông dụng, đặc biệt là khi sử dụng cốt liệu nhỏ là CLTC. Các nghiên cứu hiện nay thường tập trung vào việc sử dụng cốt liệu lớn từ phế thải bên tông trong khi ít quan tâm đến cốt liệu nhỏ tái chế với hàm lượng lớn. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo bê tông tự lèn sử dụng hoàn toàn cốt liệu (cốt liệu lớn - CLL và cốt liệu nhỏ - CLN) từ CLTC để thay thế CLTN. Kết quả cho thấy hỗn hợp bê tông có khả năng tự lèn tốt, độ đồng nhất cao, cường độ nén ở tuổi 28 ngày đạt lớn hơn 3[MPa.

Nghiên cứu thí nghiệm trong phòng phương pháp gia cố nền đường bê tông xi măng (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Hiện nay, nhiều công nghệ cải tạo nền đất mới đã được nghiên cứu và ứng dụng dựa trên phương pháp phun - bơm hóa chất. Bài báo này trình bày nghiên cứu thí nghiệm trong phòng sử dụng phương pháp bơm vữa silica sul nhằm gia cố nền đất và phục hồi kết cấu mặt đường bê tông xi măng (BTXM) bị hư hỏng do lún. Phương pháp bơm hóa chất sử dụng vữa nhằm tạo cấu trúc gia cố, góp phần nâng cao khả năng chịu tải, giảm lún và đồng thời điều chỉnh, nâng cao cao độ mặt đường BTXM. Kết quả thí nghiệm nén một trục có nở hông cho thấy, sau 28 ngày cường độ vữa và cường độ cát trộn với silica sol đạt yêu cầu cho kết cấu gia cố. Kết quả vi môn cũng cho thấy bề mặt của cát trộn silica sul có thêm các chất mới tạo ra và độ rỗng giảm đi làm gia tăng cường độ nén một trục nở hông.

Nghiên cứu hệ số giảm lún của hệ trụ vật liệu rời xử lý nền đất yếu trên mô hình thực nghiệm (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên môn hình vật lý về ứng xử của hệ trụ vật liệu hạt rời (SC - trụ đá dăm) trung xử lý nền đất yếu. Môn hình thí nghiệm sử dụng nhóm 2×2 SE đường kính D = 0,04 m, chiều dài L = DE m thi công bằng đầm kết hợp rung trong thùng thí nghiệm kích thước (I,DxD,5xI,D)m. Ba trường hợp khảo sát tương ứng với các tỷ lệ khoảng cách trụ s/D = 2,5; 3,D và 3,5, tương ứng tỷ lệ diện tích thay thế as lần lượt là 12,57%; 8,73% và 6,41%. Kết quả phân tích cho thấy, độ lún giảm khi giảm khoảng cách trụ: Trường hợp s/D = 2,5 cho độ lún nhỏ nhất (8,21 mm tại p = 120 kPa), giảm 52,6% so với phương án s/D = 3,5. Hệ số tập trung ứng suất n dao động trong khoảng 2.DD - 3.64, giảm dần theo tải trọng và hội tụ về giá trị 20 - 21 ở trạng thái tải trọng cao. Hệ số giảm lún B tính theo công thức Abushi dao động từ 0,885 đến 0,94D.

Ảnh hưởng của xi măng xỉ lò cao PCBBFs 40% đến nhiệt thủy hóa của bê tông khối lớn (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Việc kiểm soát nhiệt thủy hóa trong bê tông khối lớn là một thách thức kỹ thuật quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ nứt nhiệt trong giai đoạn đầu sau khi đổ bê tông. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế 40% xi măng PCB40 bằng xỉ lò can (PCBBFs 40%) đến sự phát triển nhiệt độ, ứng suất nhiệt và chuyển vị trung bê tông khối lớn. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp phần tử hữu hạn thông qua phần mềm Midas Civil, với môn hình bệ trụ cầu có kích thước thực tế 8 m × 4 m × 2 m. Kết quả cho thấy việc sử dụng PCBBFs 40% giúp giảm nhiệt độ tối đa tại tâm khối bê tông từ 7D.D8°C xuống 52.1°C (giảm 25,56%), ứng suất kéo lớn nhất tại bề mặt giảm từ 7.94 MPa xuống 4,7B MPa (giảm 4D,D5%) và chuyển vị giảm khoảng 0,5 mm. Những phát hiện này khẳng định hiệu quả của xi măng xỉ là cao trung việc kiểm soát nhiệt thủy hóa, giảm ứng suất kéo và nâng cao tính ổn định cấu kiện. Kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc thiết kế và thi công bền vững các công trình bê tông khối lớn trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định một trong ba đột phá chiến lược phát triển đất nước ở kỷ nguyên mới là xây dựng và hoàn thiện: “kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức" [I]. Đây là bước đi chiến lược để Việt Nam hiện đại hóa hạ tầng, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Bài báo khái quát tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, thực trạng hạ tầng giao thông ở nước ta hiện nay, giải pháp hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Hiệu chỉnh công thức xác định khả năng kháng cắt của tấm FRP cho dầm bê tông ứng suất trước (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Cho đến hiện nay, số lượng các nghiên cứu về khả năng kháng cắt của tấm FRP trung dầm bê tông ứng suất trước (BTLST) vẫn còn rất hạn chế. Bài báo đề xuất hiệu chỉnh công thức xác định biến dạng hữu hiệu của tấm gia cường kháng cắt FRP phục vụ cho việc dự đoán khả năng kháng cắt của tấm FRP cho dầm BTLST. Công thức hiệu chỉnh được đề xuất dựa trên công thức đã có trên dầm bê tông cốt thép (BTCT) truyền thống cú xét đến ảnh hưởng của độ cứng dọc trục của cốt đai và tấm FRP đến bề rộng làm việc hiệu quả của tấm FRP kháng cắt nhằm giúp xác định khả năng kháng cắt của tấm FRP cho dầm BTLST được chính xác hơn. Công thức hiệu chỉnh được kiểm chứng dựa trên kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu liên quan đến dầm BTLST gia cường tấm FRP đã có. Kết quả kiểm chứng cho thấy công thức đề xuất cho kết quả gần với thực nghiệm và có tính ổn định, có thể dùng để dự đoán tốt khả năng kháng cắt của tấm FRP cho trường hợp dầm BTLST.

Nghiên cứu tham số ảnh hưởng đến ứng xử của dầm cao bê tông cốt thép nhiều nhịp có lỗ mở bằng mô phỏng số (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Ứng xử của dầm cao bê tông cốt thép (BTCT) nhiều nhịp có nhiều điểm khác biệt so với dầm thường, đặc biệt trong các trường hợp có bố trí lỗ mở; khi đó, ứng xử chịu lực của dầm trở nên phức tạp hơn. Hiện nay, các quy định thiết kế cũng như các công bố nghiên cứu phân tích đối với dầm cao BTCT nhiều nhịp có lỗ mở còn hạn chế. Trung bài báo này, phần mềm ABAQUS được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố, bao gồm cấp bền chịu nén của bê tông (B) và tỷ lệ bố trí cốt thép, đến ứng xử của dầm cao BTCT nhiều nhịp có lỗ mở. Các mẫu dầm được khảo sát có cùng kích thước hình học và chiều dài nhịp. Kết quả phân tích cho thấy sự tồn tại của lỗ mở gây bất lợi cho khả năng chịu lực của dầm cao nhiều nhịp. Nghiên cứu đồng thời làm rõ các giai đoạn ứng xử dẫn đến phá hoại của dầm cao nhiều nhịp có lỗ mở và đưa ra một số nhận xét về ảnh hưởng của các tham số khảo sát.

Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí cần cẩu đến sự ổn định của sà lan trong quá trình thi công công trình cầu (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Trên thực tế tại Việt Nam, quá trình lựa chọn và bố trí sà lan trong thi công cầu rất phổ biến nhưng vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực địa, thiếu các cơ sở khoa học và mô hình tính toán chuyên sâu. Điều này không chỉ tiềm ẩn rủi ro về mất an toàn kỹ thuật mà còn dẫn đến những hạn chế trong việc tối ưu hóa hiệu quả thi công và chi phí đầu tư. Việc nghiên cứu, tính toán sự ổn định của sà lan khi thay đổi vị trí đặt cần cẩu trong quá trình thi công công trình cầu là cần thiết và có giá trị thực tiễn cao. Cơ sở lý thuyết tính toán sà lan phục vụ thi công công trình cầu dựa trên TCVN 11815:2017 nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sà lan trước các tác động của tải trọng đặt trên sà lan. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho các đơn vị thi công lựa chọn giải pháp thi công phù hợp.

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ chặt đến mô-đun đàn hồi cát biển dùng trong xây dựng nền đường cấp thấp (0) (Lượt lưu thông:0) (0) (Lượt truy cập:0)

Sự khan hiếm nguồn cát sông trong xây dựng nền đường đã thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm vật liệu thay thế và cát biển nổi lên như một giải pháp khả thi. Tuy nhiên, hiện nay các thông số kỹ thuật trung tính toán cường độ nền đường dùng cát biển ở Việt Nam đã công bố còn khá khiêm tốn. Bài báo tập trung vào việc nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa độ chặt và mô-đun đàn hồi cát biển khi sử dụng làm vật liệu trang xây dựng nền đường cấp thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy môn-đun đàn hồi cát biển đủ điều kiện cho xây dựng nền đường ôn tôn các loại này. Thông số mô-đun đàn hồi vật liệu bổ sung thêm chỉ tiêu kỹ thuật cần thiết dùng tính toán cường độ mặt đường trung xây dựng hạ tầng giao thông ở Việt Nam.