Đánh giá ảnh hưởng hàm lương sợi cellulose đến đặc tính marshall và khả năng kháng lún vệt bánh xe của hỗn hợp stone mastic asphalt
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về ảnh hưởng của hàm lượng sợi cellulose đến đặc tính marshall và khả năng kháng lún vệt bánh xe của hỗn hợp Stone Mastic Asphalt. Kết quả cho thấy độ ổn định marshall đạt giá trị cao nhất khi hàm lượng nhựa trong khoảng 6,0%-7,0% và hàm lượng sợi cellulose trong khoảng 0,2%-0,4%. Khi không sử dụng sợi cellulose thì độ rỗng dư của hỗn hợp SMA không đạt theo yêu cầu, hỗn hợp xảy ra hiện tượng chảy nhựa. Chiều sâu LVBX nhỏ nhất khi sử dụng sợi cellulose với hàm lượng 0,3%.
Ảnh hưởng của nhũ tương nhựa đường đến tính chất cơ hoa của bê tông xi măng - xỉ lò bao dùng cho mặt đường ô tô
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo đánh giá ảnh hưởng của nhũ tương nhựa đường (NT) với các hàm lượng 4%, 8%, 12% và 16% đến một số tính chất cơ học của bê tông xi măng chứa xỉ lò cao và định hướng dùng cho mặt đường ô tô. Kết quả cho thấy NT có xu hướng làm giảm cường độ nén (R,) và vận tốc xung siêu âm (V..) của bê tông, bổ sung hàm lượng NT càng nhiều thì R, và Vua giảm càng sâu. Tuy nhiên, sự gia tăng R, và V., theo thời gian của các bê tông chứa NT là tương tự như bê tông đối chứng, điều này cho thấy rằng NT không ngăn cản quá trình thủy hóa của xi măng mà chỉ làm chậm quá trình này. Ngược lại, đối với cường độ kéo uốn (R,) thì thể hiện ứng xử hoàn toàn khác, khi bổ sung hàm lượng NT từ (4-8)%, Ru của các bê tông tăng lên khoảng (3,8-12,9)%; khi bổ sung hàm lượng NT từ (12-16)%, R của các bê tông giảm khoảng (2,9- 14,8)%. Sự gia tăng Rỵ của bê tông dẫn đến cải thiện đáng kể khả năng chịu lực và kéo dài tuổi thọ của mặt đường hoặc cho phép giảm được chiều dày của tấm BTXM mặt đường, giảm chi phí xây dựng và mang lại hiệu quả kinh tế. Trong nghiên cứu này, hàm lượng NT tối ưu là 8%.
Xác định số lượt lu lèn hiệu quả nhằm đạt độ chặt yêu cầu khi độ ẩm của đất nền đường thay đổi
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo đã nghiên cứu và xây dựng được mô hình nhằm xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đầm nén nền đường ô tô như tính chất cơ lý, độ ẩm, độ chặt ban đầu của đất cùng các thông số của công nghệ lu lèn như tốc độ, số lượt lu, chiều dày lu. Mô hình phản ánh sự tương tác của các yếu tố đó, cho phép đánh giá và dự báo hiệu quả đầm nén trong các điều kiện thi công khác nhau, đặc biệt khi độ ẩm thay đổi. Trên cơ sở đó, có thể đề xuất chế độ thi công phù hợp như số lượt lu hợp lý nhằm đảm bảo độ chặt yêu cầu trong điều kiện khí hậu - thủy văn khác nhau. Kết quả đã góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học khi lựa chọn chế độ đầm nén nền đường nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của công trình đường ô tô.
Ảnh hưởng của tính không đẳng hướng và không đồng nhất của nền đất sét tự nhiên đến chuyển vị ngang của tường vây hồ đào sâu
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của đặc tính không đẳng hướng và không đồng nhất về mặt cường độ của nền đất sét tự nhiên đến chuyển vị ngang hố đào, thông qua mô hình phần tử hữu hạn (PTHH). Mô hình được kiểm chứng bằng số liệu quan trắc từ công trình thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các tham số được khảo sát bao gồm tỷ số không đẳng hướng (Sp/Sua), hệ số không đồng nhất (Sai) và chiều sâu hố đào (H). Kết quả cho thấy H và s là hai thông số ảnh hưởng lớn đến chuyển vị tường vây, Sup/S, có tác động rõ hơn ở trường hợp hố đào nông. Trên cơ sở đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò tương đối của các tham số đặc trưng cho nền sét không đẳng hướng, không đồng nhất trong phân tích chuyển vị ngang tường vây hổ đào sâu.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả logistigs chăng cuối và tác động đến trải nghiệm khách hàng trong thương mại điện tử tại Việt Nam
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong hành trình mua sắm trực tuyến, chặng cuối - công đoạn đưa hàng từ trung tâm phân loại đến tay người mua - thường là điểm tiếp xúc trực tiếp duy nhất giữa doanh nghiệp giao nhận và khách hàng, do đó chi phối mạnh cảm nhận về toàn bộ giao dịch. Các công bố trước đây phần lớn tách riêng từng nhân tố dịch vụ giao hàng để soi mối liên hệ với sự hài lòng tại một địa bàn hẹp, chưa đặt các yếu tố quyết định hiệu quả vận hành chặng cuối trong quan hệ trực tiếp với trải nghiệm khách hàng hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm cả chiều cảm xúc lẫn chiều nhận thức. Khoảng trống này đáng chú ý tại Việt Nam, nơi mạng lưới giao nhận còn phân tán và chi phí chặng cuối chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí giao hàng. Nghiên cứu xây dựng một khung phân tích kết hợp mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL với lý thuyết giá trị cảm nhận, qua đó nhận diện và sắp xếp các yếu tố ảnh hưởng cùng cơ chế chuyển hoá của chúng thành trải nghiệm khách hàng. Kết quả cho thấy thời gian giao hàng và mức độ minh bạch của thông tin vận chuyển là hai yếu tố có sức chi phối lớn nhất, trong khi hạ tầng đô thị thiếu đồng bộ và chi phí giao hàng cao vẫn là hai rào cản khiến chất lượng dịch vụ chặng cuối khó được nâng lên đồng đều trên toàn thị trường.
Tác động của chuyển đổi số đến khả năng chống chịu chuỗi cung ứng: nghiên cứu tại các doanh nghiệp logistigs Việt Nam
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang vận hành trong một môi trường mà gián đoạn không còn là ngoại lệ mà đã trở thành trạng thái thường trực, từ đại dịch, xung đột địa chính trị đến biến động giá nhiên liệu. Trong bối cảnh đó, khả năng chống chịu chuyển từ vai trò một biện pháp phòng ngừa sang một năng lực cạnh tranh cốt lõi, và chuyển đổi số được kỳ vọng là công cụ chủ yếu để xây dựng năng lực này. Tại Việt Nam, ngành logistics chủ yếu gồm doanh nghiệp vừa và nhỏ với mức độ số hoá phân mảnh, khiến câu hỏi liệu đầu tư công nghệ có thực sự chuyển hoá thành khả năng chống chịu hay chỉ dừng ở cải thiện hiệu quả vận hành trở nên đặc biệt đáng quan tâm. Nghiên cứu xây dựng một khung phân tích tích hợp lý thuyết năng lực động với lý thuyết quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, qua đó xem xét đồng thời bốn thành phần chống chịu là cảnh báo sớm, thích ứng, phục hồi và học hỏi. Kết quả chỉ ra rằng việc rót vốn cho nền tảng dữ liệu, tự động hoá kho vận và kết nối số giữa các mắt xích gắn thuận chiều với năng lực chống chịu, song mức độ chuyển hoá bị giới hạn bởi ba nút thắt: thiếu hụt nhân lực số, chi phí đầu tư ban đầu cao và tình trạng dữ liệu chưa được chuẩn hoá giữa các bên trong chuỗi.
|
|
|
|