Duyệt theo bộ sưu tập Bài trích (Tất cả)
Nghiên cứu thiết kế đạn nhiều đầu chống uav tầm gần dùng cho súng bộ binh (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo nghiên cứu mô hình đạn súng nhiều đầu (nhiều phần tử sát thương) cỡ 7,62 mm nhằm nâng cao hiệu quả tác chiến đối với các mục tiêu bay thấp, cỡ nhỏ và cơ động như phương tiện bay không người lái (UAV). Cấu hình đề xuất bao gồm ba đầu đạn con có khả năng phân tách khi động học sau khi rời miệng nòng, tạo ra vùng bao phủ điểm chạm diện rộng thay vì một điểm đơn lẻ như đạn truyền thống. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng số động lực học chất lưu (CFD) để xác định các đặc trưng khi động và hệ số lực cản chính diện (C ) của từng thành phần. Trên cơ sở đó, tính toán và kiểm chứng thông qua thực nghiệm bắn thử để đánh giá phân bố vùng điểm chạm. Kết quả cho thấy, với sơ tốc đầu nòng 550 m/s, thiết kế đạn nhiều đầu cho phép tạo ra số lượng điểm chạm cao gấp 3 lần so với đạn đơn truyền thống. Vùng phân bố điểm chạm tại cự ly 75 m và 100 m lần lượt đạt bán kính 37 cm và 75 cm, khẳng định khả năng tối ưu hóa trong việc tiêu diệt mục tiêu UAV cỡ nhỏ và sinh lực địch ở tầm gần.

Tối ưu hóa đa mục tiêu hộp giảm tốc bánh răng cấp chậm phân đội bằng thuật toán nsga-ii và edas: giảm thiểu diện tích mặt cắt ngang và tối đa hóa hiệu suất (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Nghiên cứu này trình bày phương pháp tối ưu hóa đa mục tiêu cho hộp giảm tốc bánh răng trụ răng nghiêng hai cấp có cấp ra phân đội nhằm đồng thời giảm nhỏ nhất diện tích mặt cắt ngang

Nghiên cứu, thiết kế bộ điều khiển cánh tay robot 6 bậc tự do dựa trên phương pháp học tăng cường mềm ACTOR-CRITIC (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Điều khiển chính xác cánh tay robot trong môi trường động, bất định là thách thức lớn đối với các bộ điều khiển kinh điển và các phương pháp hiện đại như điều khiển thích nghi hay điều khiển tối ưu. Mặc dù học tăng cường sâu (DRL) đã mở ra hướng đi mới, nhưng vẫn bộc lộ hạn chế về tính hội tụ cục bộ và thiếu sự cân bằng trong chiến lược khám phá không gian. Để giải quyết triệt để vấn đề này, bài báo đề xuất một bộ điều khiển tiên tiến cho cánh tay robot 6 bậc tự do (6- DOF) dựa trên phương pháp học tăng cường mềm Actor-Critic (Soft Actor-Critic - SAC). Trong nghiên cứu này, hệ thống trạng thái trước tiên được thiết lập các phương trình động học, động lực học và mô hình hóa dưới dạng quá trình quyết định Markov (MDP). Không gian trạng thái, hàm phần thưởng đa mục tiêu và cấu trúc mạng nơ-ron Actor-Critic được thiết kế nhằm tối đa hóa phần thưởng tích lũy kết hợp với cực đại hóa entropy. Cơ chế này giúp robot khám phá môi trường hiệu quả, tránh rơi vào các điểm tối ưu cục bộ và bám quỹ đạo trơn tru. Để kiểm chứng, bộ điều khiển được áp dụng vào bài toán thực nghiệm động lực học phức tạp: điều khiển robot dự đoán và đánh trúng quả bóng bàn với các quỹ đạo rơi ngẫu nhiên. Kết quả kỳ vọng cho thấy thuật toán SAC vượt trội về tốc độ hội tụ, độ ổn định và khả năng phản xạ theo thời gian thực, khẳng định tiềm năng to lớn trong việc giải quyết các tác vụ đa nhiệm phức tạp.

Chuyển đổi cad sang đô thị theo cơ chế xác định với kiểm chứng độ tin cậy ở quy mô toàn bộ tập dữ liệu (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo đề xuất một phương pháp chuyển đổi mô hình CAD sang cấu trúc đồ thị theo cơ chế xác định, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và khả năng tái lập kết quả. Trên cơ sở bộ dữ liệu MFCAD gồm các mô hình STEP có gán nhãn theo từng mặt, quy trình được xây dựng để bảo đảm đánh chỉ số mặt ổn định, đồng bộ giữa mặt trích xuất và nhãn ngữ nghĩa, đồng thời tạo ra các đồ thị liên thông ở quy mô toàn bộ tập dữ liệu. Độ tin cậy của phương pháp được đánh giá thông qua các chỉ số cấu trúc và cơ chế băm đồ thị chuẩn hóa, cho phép so sánh định lượng giữa các lần thực thi. Kết quả cho thấy toàn bộ mô hình được chuyển đổi thành công, bảo đảm tính liên thông, đầy đủ nhãn và khả năng tải lập tuyệt đối. Mã nguồn và các cấu hình thí nghiệm được chia sẻ công khai tại GitHub nhằm phục vụ kiểm chứng và tải sử dụng. Phương pháp đề xuất cung cấp một nền tảng minh bạch và có thể kiểm chứng cho các nghiên cứu CAD dựa trên đồ thị.

Thực nghiệm đánh giá độ không đảm bảo trong phép đo đường kính mặt cầu bằng máy đo tọa độ (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Máy đo tọa độ (CMM) được sử dụng rộng rãi trong đo lường cơ khí để xác định các đặc trưng hình học của chi tiết từ dữ liệu tọa độ ba chiều. Đối với bề mặt dạng cầu, đường kính được xác định từ tập hợp điểm đo thông qua một tiêu chi xử lý dữ liệu nhất định. Vì vậy, kết quả đo không chỉ chịu ảnh hưởng của sai số CMM và số lượng điểm đo, mà còn phụ thuộc vào tiêu chí xử lý dữ liệu và sai lệch hình dạng của chi tiết đo. Nghiên cứu này xây dựng phương pháp đánh giá độ không đảm bảo đo đường kính mặt cầu theo định hướng của ISO 15530-3 trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm định lượng. Thực nghiệm được thực hiện trên máy CMM Mitutoyo Crysta-Apex S544 với hai quy trình lấy mẫu gồm 12 điểm và 20 điểm. Mô hình đánh giá xét đến các thành phần liên quan , đến chi tiết chuẩn, độ lặp lại của quy trình đo, sai số hệ thống và sai lệch độ cầu của chi tiết đo. Kết quả cho thấy độ không đảm bảo đo mở rộng lần lượt là 0,00616 mm và 0,00514 mm đối với đo 12 điểm và 20 điểm, với hệ số phủ k = 2.quy trình H2O 16m

Nghiên cứu thực nghiệm sáy cà rốt trên máy sấy năng lượng mặt trời (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Sấy nông sản bằng năng lượng mặt trời là một giải pháp phù hợp nhằm tận dụng nguồn năng lượng tái tạo, giảm tiêu thụ năng lượng hóa thạch và nâng cao tính bền vững trong chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, quá trình sấy cà rốt bằng hệ thống sấy năng lượng mặt trời giản tiếp đối lưu tự nhiên và đối lưu cưỡng bức được khảo sát. Hệ thống được thiết kế và chế tạo phù hợp với điều kiện khí hậu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thực nghiệm cho thấy nhiệt độ trung bình của không khí đi vào buồng sấy khi đối lưu tự nhiên khoảng 47.4°C, khi đối lưu cưỡng bức khoảng 37.5°C; Độ ẩm của cà rốt có thể giảm từ 89.60% xuống khoảng 10% sau 6 giờ sấy với đối lưu tự nhiên và 3.5 giờ sấy với đối lưu cưỡng bức. Sấy đối lưu cưỡng bức giúp giảm thời gian sấy khoảng 42% so với sấy đối lưu tự nhiên, đồng thời cải thiện màu sắc và độ đồng đều của sản phẩm. Kết quả này cho thấy phương pháp sấy năng lượng mặt trời có khả năng làm khô cà rốt hiệu quả, đồng thời thể hiện tiềm năng ứng dụng trong quy mô hộ gia đình và sản xuất nhỏ.

Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quan sát hình ảnh và đánh giá định lượng ngoại dạng mối hàn MAG (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo trình bày một phương pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tự động quan sát và đánh giá định lượng ngoại dạng mối hàn sau quá trình hàn MAG sử dụng dây lõi thuốc có lót sứ ceramic trên thép carbon CT3 dày 12 mm. Nghiên cứu xây dựng một bộ dữ liệu ảnh chuyên biệt từ các mẫu hàn thực nghiệm, đề xuất mô hình Al lại kết hợp phân đoạn ảnh và trích xuất đặc trưng hình học, đồng thời kiểm chứng thực tế trong điều kiện gần sản xuất công nghiệp. Kết quả cho thấy mô hình có khả năng nhận diện ổn định vùng mối hàn, trích xuất chính xác các thông số ngoại dạng và đạt các chỉ số đánh giá cao hơn so với các mô hình nhận diện đường hàn hiện có. Bộ dữ liệu gồm các ảnh RGB chụp sau hàn bằng camera công nghiệp độ phân giải 1920 × 1080 pixel, thu nhận từ nhiều góc quan sát dưới ánh sáng khuếch tán để giảm ảnh hưởng của phản xạ bề mặt. Tổng cộng 360 ảnh mối hàn được tạo ra từ 30 thí nghiệm thực nghiệm với chiều dài mối hàn 200 mm/mẫu. Dữ liệu được gán nhãn theo hai cấp gồm vùng mối hàn và vùng khuyết tật bề mặt, đồng thời trích xuất các tham số hình học chuẩn như chiều rộng bead, reinforcement, độ lồi, góc chuyển tiếp chân mối hàn, độ sâu undercut và chỉ số đồng đều bề mặt.

Ảnh hưởng của các thông số công nghệ đến phân bố chiều dày trong dập vuốt sâu vật liệu tầm ba lớp (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo khảo sát ảnh hưởng của lực chặn phôi, khe hở chày-cối và bán kính góc lượn cối đến phân bố chiều dày khi dập vuốt sâu tấm ba lớp SUS304/AA1050/SUS430. Nghiên cứu kết hợp thí nghiệm kéo, 2D-DIC, mô phỏng phần tử hữu hạn và kiểm chứng thực nghiệm. Kết quả cho thấy mô hình Voce theo hướng cản 0° dự báo chiều dày phù hợp nhất. Bộ thông số BHF = 14 tấn, Wc= 3,2 mm và Rd = 10 mm giúp giảm mỏng cục bộ; sai lệch mô phỏng-thực nghiệm là 0,4-2,6%.

Thiết kế mô hình xe nguyên mẫu cho xe tự lái được trang bị hệ thống ADAS (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo trình bày quá trình thiết kế và phát triển một mô hình xe nguyên mẫu chi phí thấp cho xe tự lái có tích hợp một số chức năng cơ bản của hệ thống hỗ trợ lái xe tiên tiến (ADAS). Mô hình được xây dựng theo hướng mô-đun nhằm phục vụ nghiên cứu và đào tạo về điều khiển chuyển động, bám làn, duy trì khoảng cách an toàn, tránh va chạm và khả năng mở rộng truyền thông giữa các xe. Hệ thống phần cứng của xe gồm vi điều khiển Arduino Mega 2560 + CH340, mạch điều khiển động cơ L9110S, cảm biến khoảng cách hồng ngoại SHARP GP2Y0A21YKOF, cảm biến dò line 3 kênh, cảm biến tốc độ hồng ngoại dùng bộ so sánh LM393 và encoder quang. Về phần mềm, hệ thống được lập trình trên nền tảng Arduino IDE bằng ngôn ngữ C/C++, trong đó dữ liệu từ các cảm biển được thu thập, xử lý và chuyển thành tin hiệu điều khiển động cơ theo thời gian thực. Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình có khả năng phát hiện vật cản phía trước, điều chỉnh vận tốc và giữ khoảng cách an toàn trong môi trường phòng thí nghiệm. Mô hình đề xuất có ưu điểm chi phi thấp, cấu trúc đơn giản, dễ triển khai, phù hợp cho các nghiên cứu bước đầu về xe thông minh và xe tự hành.

Ước lượng tham số động cơ điện một chiều bằng phương pháp khởi tạo lai rls-ekf dựa trên mô hình ARX/MIMO (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Điều khiển chính xác động cơ điện là vấn đề khó khăn bởi chúng là đối tượng phi tuyến, có nhiều thông số thay đổi trong quá trình hoạt động, đặc biệt là sử dụng các lý thuyết điều khiển hiện đại vốn rất cần thông số mô hình chính xác. Bài báo trình bày phương pháp kết hợp lai giữa bình phương đệ quy (RLS) và bộ lọc Kalman mở rộng (EKF), bằng cách sử dụng kết quả từ RLS làm giá trị khởi tạo cho EKF, làm cho EKF bắt đầu từ một miền nghiệm sát giá trị thực tế hơn, qua đó giảm độ nhạy và cải thiện khả năng hội tụ. Lý thuyết nghiên cứu được ứng dụng ước lượng thông số cơ điện của động cơ điện một chiều. Kết quả mô phỏng và thực nghiệm đều cho thấy phương pháp RLS-EKF cho hiệu quả tốt hơn so với RLS. Trong thực nghiệm, sai số ước lượng của RLS-EKF đối với các tham số R, K, J và b lần lượt là 6.57%, 0.08%, 0.55% và 4.28%. Đồng thời, phương pháp này đạt RMSE, MAE và FIT lần lượt là 0.04086, 0.01267 và 92.32% đối với dòng điện phần ứng và 0.5891, 0.1811 và 99.29% đối với tốc độ góc. Nội dung nghiên cứu là cơ sở tin cậy để lựa chọn phương pháp nhận dạng phù hợp với các yêu cầu khác nhau về độ chính xác và thời gian thực trong mô hình hóa và điều khiển động cơ điện một chiều.