Phát triển kinh tế biển gắn với kinh tế tư nhân: Nghiên cứu từ các đô thị lấn biển tỉnh An GiangBài báo nghiên cứu chiến lược tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang dựa trên cấu trúc quản trị tích hợp "Biên giới - Sông - Biển" sau sáp nhập hành chính. Nghiên cứu tập trung vào giải pháp kiến tạo hệ sinh thái đô thị lấn biển quy mô 4.500 ha tại cụm động lực Phú Quốc - Hà Tiên - Rạch Giá nhằm mở rộng quỹ đất thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) theo kịch bản RCP 8.5. Bằng phương pháp lập ma trận TDWS và đối chiếu kinh nghiệm đê quai (Palder) của Đông Á. bài bán đề xuất hệ thống quản trị "6 rõ" gắn liền với cơ chế "Hợp đồng kinh tế xanh" và cơ chế thử nghiệm chính sách (Sandbox) mở rộng. Kết quả phân tích chuỗi dữ liệu 2021-2025 khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân (chiếm 73,63% tổng vốn) trong việc chuyển giao công nghệ thông minh và thực thi tiêu chuẩn ESG, tạo động lực hình thành cực tăng trưởng biển xanh bền vững vùng biển Tây Nam.
Ứng dụng mảng một chiều và kỹ thuật ma trận thưa để lập trình xử lý số liệu lưới khống chế trắc địa số lượng điểm lớn , Ths Từ khóa:Xử lý số liệu trắc địa, đặc biệt là bình sai lưới khống chế mặt bằng với số liệu điểm lớn là một công tác đòi hỏi phải tính toán một khối lượng số liệu rất lớn. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong công tác xử lý nội nghiệp vì phải nâng cấp bộ xử lý của máy tính hoặc phải chia nhỏ mạng lưới lớn thống nhất thành các lưới khống chế nhỏ, rời rạc. Việc ứng dụng kỹ thuật ma trận thưa trong mảng một chiều có nhiều ưu điểm để có thể xử lý được các khó khăn trên, giúp xử lý bình sai được mảng lưới khống chế mặt bằng lớn với thời gian nhanh hơn rất nhiều thuật toán bình sai thông thường. Do vậy, bài báo sẽ tiến hành thực nghiệm so sánh về số lượng điểm và thời gian xử lý số liệu giữa thuật toán ứng dụng lý thuyết ma trận thưa mảng 1 chiều với thuật toán bình sai thông thường mảng 2 chiều.
Cải thiện hiệu suất của hệ thống điện mặt trời áp mái tại các nhà ga tàu điện dựa trên điều chỉnh cấu trúc kết nối của dãy PV
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Quá trình đô thị hóa nhanh đang tạo ra áp lực lớn lên việc khai thác và sử dụng hiệu quả năng lượng điện, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đô thị. Trong bối cảnh đá, năng lượng tái tạo, nhất là điện mặt trời được xem như một giải pháp bền vững và tiềm năng. Tuy nhiên, hiệu suất của các hệ thống quang điện lắp đặt trên mái nhà ga metro thường bị suy giảm do hiện tượng bóng che, gây ra bởi cấu trúc mái phức tạp và các công trình xung quanh dẫn đến tổn thất công suất đáng kể cho toàn hệ thống. Để giải quyết vấn đề này, bài báo đề xuất một phương pháp cải thiện hiệu suất của hệ thống điện mặt trời áp mái thông qua việc điều chỉnh cấu trúc kết nối giữa các tấm quang điện kết hợp với thuật toán điều khiển tối ưu. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng cấu trúc đề xuất giúp giảm đáng kể tổn thất do hiện tượng bóng che. Giải pháp được đề xuất không chỉ mang tính khả thi cao mà còn có khả năng cải thiện đáng kể hiệu suất của hệ thống điện mặt trời trong các ứng dụng giao thông đường sắt đô thị.
Xây dựng chương trình hỗ trợ phát hiện và thống kê cây xanh HCMUNRE_TreeVision1 từ ảnh UAV sử dụng Deep Learning , Ths Từ khóa: .
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Sự phát triển của công nghệ máy bay không người lái (UAV) và trí tuệ nhân tạo đã mở ra nhiều cơ hội trong giám sát tài nguyên rừng, quản lý cây xanh đô thị và nông nghiệp chính xác. Nghiên cứu này trình bày quá trình xây dựng phiên bản đầu tiên của chương trình HCMUNRE_TreeVision - một công cụ hỗ trợ tự động phát hiện và thống kê cây xanh từ ảnh UAV sử dụng môn hình DeepForest. Chương trình được phát triển bằng ngôn ngữ Python với giao diện đồ họa (GUI), cho phép người dùng xử lý hàng loạt ảnh UAV, tự động phát hiện vị trí cây, thống kê số lượng cây, tính toán diện tích tán cây dựa trên vùng bao (bounding box), xuất dữ liệu dưới dạng CSV, GenJSDN và xuất các biểu đồ thống kê và phân tích. Kết quả thực nghiệm cho thấy chương trình có khả năng xử lý nhanh tập dữ liệu UAV và cung cấp các thông tin hỗ trợ hiệu quả cho công tác nghiên cứu và quản lý cây xanh.
Thiết kế robot tự hành tích hợp cảm biến thông minh nhằm cảnh báo giám sát môi trường lao động
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài bán đề xuất một hệ thống rabat tự hành tích hợp cảm biến thông minh nhằm phục vụ công tác giám sát và cảnh báo môi trường lao động trong nhà máy. Hệ thống được thiết kế với một robot di động có khả năng tự hành, được trang bị các cảm biến đo khí (D2. CD. CD2, CH4, H2S), cảm biến nhiệt độ, độ ẩm: hệ thống camera giám sát và phát hiện thân nhiệt, đàm thoại hai chiều; cùng với cảm biến LiDAR phục vụ xây dựng bản đồ và định vị trong không gian hai chiều (2D). Nghiên cứu tiến hành mô phỏng trên phần mềm Gazebo với 4 kịch bản cho rabut đề xuất ở môi trường trong và ngoài nhà máy. Kết quả cho thấy rabat vận hành ổn định, định vị chính xác và tránh vật cản đến đích một cách an toàn. Các kết quả trên khẳng định tính khả thi của đề xuất nghiên cứu và tiềm năng ứng dụng robot vào kiểm tra, giám sát, cảnh báo và hỗ trợ người lao động khi làm việc trong môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao. Kết quả này cũng là cơ sở để tác giả tiến hành gia công, chế tạo, kiểm nghiệm vào môi trường thực tế.
Nghiên cứu tác động của hệ thống đường thông thoát khí xả (EGB) trên động cơ ME nhằm tối ưu hóa tiêu thụ nhiên liệu trong điều kiện Slow Steaming
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Ngành vận tải biển toàn cầu đang đứng trước áp lực lớn trung việc cắt giảm phát thải khí nhà kính (GHG) để tuân thủ các khung pháp lý khắt khe mới của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMD). đặc biệt là các chỉ số EEXI và CII có hiệu lực từ năm 2023. Việc áp dụng chiến lược giảm tốc độ hành trình (Slow Steaming) được coi là giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế tức thời, sang lại đặt ra những thách thức lớn về hiệu suất nhiệt động học và cơ học đối với hệ thống động cơ chính, đặc biệt là ở dải tải thấp. Bài bán tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá toàn diện hệ thống đường thông thoát khí xả (Exhaust Gas Bypass - EGB) khi được tích hợp trên nền tảng động cơ điều khiển điện tử (ME) của hãng MAN B&W. Qua quá trình phân tích dữ liệu, hệ thống EGB kết hợp phương pháp hiệu chỉnh tải thấp cho thấy khả năng giảm suất tiêu hao nhiên liệu riêng (SFDC) từ 2 - 5 g/ kWh, đồng thời tối ưu hóa năng lượng nhiệt thừa toàn tàu thông qua hệ thống điều khiển năng lượng nồi hơi (EEC). Bài bán cũng đi sâu so sánh EGB với các công nghệ như ngắt bộ tăng áp (TCCD), phân tích các rủi ra vận hành như ăn mòn điểm sương và chỉ ra tính khả thi về mặt kinh tế với thời gian hoàn vốn chỉ từ 12 - 24 tháng, mở ra hướng đi chiến lược cho quá trình nâng cấp đội tàu, đặc biệt là đối với thực trạng đội tàu viễn dương tại Việt Nam.
Nghiên cứu tận dụng phế thải thạch cao phospho để sản xuất gạch bê tông Từ khóa: .
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Thạch cao phosphu là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất axit photphoric công nghiệp với khối lượng lớn, gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với môi trường do khả năng tái sử dụng còn hạn chế và quá trình tồn đọng lâu dài. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 14 triệu tấn phế thải PG được tạo ra hằng năm, với gần II triệu tấn hiện đang được lưu trữ tại các bãi thải, trong khi đó, số lượng tiêu thụ chỉ khoảng hơn 700.000 tấn chủ yếu được sử dụng làm phụ gia xi măng, vật liệu san lấp, làm nền, móng đường giao thông, tấm thạch cao chịu nước. Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu sử dụng thạch cao PG tại Công ty Cổ phần Thạch cao Đình Vũ để chế tạo gạch bê tông đạt mác M5 và M7.5. Trung nghiên cứu, thạch cao PG được sử dụng kết hợp với xi măng poóc lăng (XM) và phụ gia khoáng hoạt tính (PGK) làm chất kết dính cường độ cao, đồng thời có khả năng chịu nước. Mẫu gạch chế tạo có cường độ nén, độ hút nước và độ thấm nước đạt theo yêu cầu của tiêu chuẩn TCVN 6477:2016, trong | khi khối lượng thể tích ở trạng thái khôn có thể đạt dưới 2000 kg/m. Bên cạnh đá, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tăng hàm lượng chất kết dính sử dụng từ l60-240 kg/m sẽ cải thiện cường độ nén của gạch hiệu quả hơn so với việc hạ tỷ lệ N/CKD.
Hiệu quả sử dụng cao su vụn trong bê tông nhựa chặt tái chế nóng , Ks Từ khóa: .
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo đánh giá hiệu quả sử dụng cao su vụn từ lốp xe phế thải đối với bê tông nhựa chặt tái chế nóng (BTNCTCN) 12,5 sử dụng 25% bê tông nhựa thu hồi (RAP). Hai hỗn hợp được so sánh gồm hỗn hợp không bổ sung can su vụn (Ro) và hỗn hợp bổ sung 1,0% cao su vụn theo khối lượng hỗn hợp (RI). Cất liệu và bột khoáng được lấy từ trạm trộn bê tông nhựa của Công ty Cổ phần Công trình giao thông Sài Gòn, cốt liệu có nguồn gốc từ mỏ đá Tân Cang, Đồng Nai; nhựa đường mới là nhựa đường 60/70 của Công ty TNHH Nhựa đường Petrolimex; can su vụn được cung cấp bởi Công ty Cổ phần Phát triển công nghệ Cao Su, cỡ hạt 0,4 mm. Trên cơ sở cấp phối BTNCTCN 12,5 sử dụng 25% RAP và hàm lượng nhựa tối ưu 4,8%, hai hỗn hợp Ro và RI được đánh giá thông qua độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ kéo khi ép chẻ của mẫu khôn và mẫu ngâm, tỷ số cường độ kéo gián tiếp TSR, mô-đun đàn hồi ở 15°C, 3D°C và El°C; đồng thời xem xét hiệu quả áp dụng thông qua kiểm toán kết cấu áo đường và giá thành rải thảm. Kết quả cho thấy hỗn hợp R1 có độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ ép chẻ khôn cùng ướt và TSR cao hơn hỗn hợp Ro. Mô-đun đàn hồi của RI thấp hơn RII ở cả ba mức nhiệt độ thí nghiệm, cho thấy cao su vụn góp phần làm tăng biến dạng đàn hồi phục hồi và giảm độ cứng của BTNCTCN có RAP: đồng thời Ri vẫn cho kết quả độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ ép chẻ và TSR cao hơn Ro trong phạm vi thí nghiệm. Kết quả kiểm toán kết cấu cho thấy cả hai phương án đều thỏa mãn các điều kiện tính toán, trong khi phương án có cao su vụn có giá thành rải thảm cao hơn do phát sinh chi phí vật liệu cao su. Vì vậy, việc bổ sung 1,0% cao su vụn cho BTNCTCN 12,5 sử dụng 25% RAP có triển vọng về mặt kỹ thuật, nhưng cần tiếp tục xem xét hiệu quả kinh tế theo điều kiện áp dụng thực tế.
Đánh giá hiệu quả môi trường và giá trị thẩm mỹ của vật liệu trình tường trong kiến trúc dân dụng Việt Nam
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong bối cảnh ngành xây dựng toàn cầu đang đối mặt với yêu cầu giảm phát thải carbon và hướng tới phát triển bền vững, các vật liệu xây dựng có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được quan tâm. Một trung số đó là vật liệu trình tường, là một dạng vật liệu đất nện truyền thống ở vùng cao Việt Nam, sử dụng đất được đầm nén theo từng lớp để tạo thành kết cấu tường có khả năng chịu lực và bao che công trình. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả môi trường và giá trị thẩm mỹ của vật liệu trình tường trong kiến trúc dân dụng ở Việt Nam, thông qua phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích so sánh với các vật liệu xây dựng phổ biến khác. Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý nhằm thúc đẩy ứng dụng trình tường trong kiến trúc bền vững tại Việt Nam.
|
|
|
|