Phân tích mạng lưới giao thông và giải pháp tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển hàng hóa từ cảng biển đến khu công nghiệp bằng mô hình GIS
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài nghiên cứu này đề xuất cách tiếp cận tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển hàng hóa từ cảng biển đến khu công nghiệp thông qua việc ứng dụng mô hình GIS và phân tích mạng lưới giao thông. Dữ liệu về bản đồ, hạ tầng và lưu lượng phương tiện được chuẩn hóa và đưa vào hệ thống để xây dựng mô hình mạng lưới có trọng số theo chiều dài đường, tốc độ di chuyển và mức độ ùn tắc. Kết quả mô phỏng cho thấy các thuật toán tìm đường trong môi trường GIS có thể giảm chi phí vận hành và thời gian di chuyển so với phương thức lựa chọn tuyến thủ công. Ngoài ra, mô hình hỗ trợ đánh giá các kịch bản nâng cấp hạ tầng nhằm cải thiện hiệu quả logistics. Nghiên cứu góp phần cung cấp công cụ hỗ trợ quyết định hữu ích cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Giải pháp tối ưu hóa chi phí vận tải thông qua chiến lược chia sẻ phương tiện Từ khóa:
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và nhu cầu vận chuyển tăng nhanh, tối ưu hóa chi phí vận tải trở thành ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp logistics. Một xu hướng nổi bật là chiến lược chia sẻ phương tiện, cho phép nhiều doanh nghiệp cùng sử dụng chung phương tiện và năng lực vận chuyển nhằm tận dụng tài nguyên, giảm chi phí cố định và nâng cao hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu này tổng hợp cơ sở lý thuyết và phân tích thực tiễn ứng dụng mô hình chia sẻ phương tiện trong logistics tại Việt Nam, đánh giá tác động của chiến lược này đối với chi phí vận tải, hiệu suất phân phối và phát thải. Phương pháp nghiên cứu gồm tổng quan tài liệu 2020-2025, phân tích dữ liệu ngành, phỏng vấn chuyên gia và mô hình hóa bài toán định tuyến có chia sẻ. Kết quả dự kiến xác định các mô hình phù hợp, ước lượng mức tiết kiệm chi phí, nhận diện rào cản triển khai và đề xuất giải pháp công nghệ - chính sách nhằm thúc đẩy hệ sinh thái logistics cộng tác và bền vững.
Sự phát triển san hô vùng biển Miền Trung trên vật liệu bê tông chất lượng cao sinh thái C60 * Từ khóa:
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Hầu hết các công trình xây dựng ven biển, biển đảo cho an ninh quốc phòng cho phát triển kinh tế, thương mại chủ yếu bằng vật liệu bê tông và bê tông cốt thép... Vật liệu này ảnh hưởng, đe dọa thậm chỉ là một nguyên nhân phá hủy môi trường hệ sinh thái ven biển, đặc biệt tại các vùng biển có hệ sinh thái biển cần được bảo vệ, bảo tồn thậm chí cần được khôi phục khi đang suy thoái. Hướng nghiên cứu, ứng dụng vật liệu bê tông sinh thái vừa giảm thiểu tác động đến hệ sinh thái biển, kích thích sinh trưởng của sinh vật dưới nước, bảo tồn hệ thủy sinh vừa đảm bảo cường độ, độ bền lâu để phát triển bền vững các công trình biển được quan tâm, chú trọng. Bài báo giới thiệu về bê tông sinh thái, ảnh hưởng của phụ gia L-aginine với đặc trưng tính năng của bê tông chất lượng cao C60 thỏa mãn các điều kiện TCVN 9346:2012 và các kết quả nghiên cứu mới cho phục hồi san hô trên giá thể bê tông chất lượng cao sinh thái C60 trong phòng thí nghiệm và hiện trường tại vùng biển miền Trung Việt Nam. Các kết quả ban đầu giúp định hướng về sự phù hợp, một giải pháp vật liệu cốt lõi cho sự phát triển kinh tế biển bền vững với môi trường hệ sinh thái biển nói chung và san hô nói riêng.
Tính toán đoạn nối siêu cao - chuyển tiếp - mở rộng trong đường cong nằm có tính đến sự thay đổi chiều rộng mặt đường cho đường nhiều lần xe không có dải phân cách giữa theo t
...
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trên các tuyến đường hiện đại, nhất là đường có tốc độ xe chạy cao, bên cạnh việc bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật, hồ sơ thiết kế tuyến cần đáp ứng ở mức độ ngày càng cao các yêu cầu về thiết kế cảnh quan. Việc tính toán thiết kế các yếu tố hình học (YTHH) nói chung và đoạn nối siêu cao - chuyển tiếp - mở rộng (từ nay gọi chung là đoạn nối) trong đường cong nằm nói riêng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới an toàn chạy xe mà còn góp phần quan trọng quyết định sự hài hòa nội tại của tuyến đường. Trong các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành của Việt Nam mặc dù đã có quy định về việc phối hợp các YTHH trong đoạn nối giữa đoạn thẳng và đường cong tròn trên bình đồ tuyến. Tuy nhiên, khi gặp điều kiện khó khăn, việc bố trí các YTHH trong đoạn nối bị khống chế, vẫn chưa được xem xét và hướng dẫn đầy đủ. Làm rõ thêm vấn đề này, các tác giả bài báo sử dụng tính toán hình học đề xuất các công thức cần thiết sử dụng khi thiết kế đoạn nối trong đường cong nằm áp dụng cho đường nhiều làn xe không có dải phân cách giữa trên đường ngoài đô thị.
Áp dụng công nghệ số trong dự án nút giao thông An Phú - thành phố Hồ Chí Minh
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong dự án nút giao thông An Phú - TP.HCM, với trọng tâm là tích hợp Building Information Modeling (BIM) và công cụ Dynamo trong mô hình hóa công trình cầu và đường bộ. Nghiên cứu triển khai mô hình BIM (LOD 200 đến 350) cho các cấu kiện đặc trưng như dầm hộp cong, mố, trụ, cọc và tường chắn, đồng thời so sánh thời gian mô hình giữa quy trình thủ công trên Revit và tự động hóa quy trình mô hình hóa trong môi trường Revit-Dynamo. Kết quả cho thấy Dynamo giúp rút ngắn trung bình 52% thời gian ở LOD 200 và 53% ở LOD 350, đặc biệt hiệu quả với cấu kiện có tính lặp lại cao như cọc (giảm 67%) và trụ (giảm 54%). Ngoài lợi ích về tiến độ, Dynamo còn nâng cao độ chính xác mô hình hình học, hỗ trợ cập nhật tự động khi thiết kế thay đổi, đồng thời tạo thuận lợi cho đo bóc khối lượng, bố trí cốt thép và xuất dữ liệu quản lý. Nghiên cứu khẳng định vai trò then chốt của tự động hóa trong BIM, góp phần nâng cao chất lượng thiết kế và hiệu quả quản lý dự án hạ tầng.
Đánh giá giải pháp kéo dài đường cất hạ cánh cảng hàng không Côn Đảo kết hợp sử dụng dải vật liệu nắm giữ tàu bay EMAS
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Cảng hàng không Côn Đảo phục vụ du lịch, phát triển kinh tế cho đặc khu Côn Đảo, là một sân bay có tiềm năng phát triển lớn. Tuy nhiên, do đặc điểm hạn chế về điều kiện về khí hậu, thời tiết phức tạp, điều kiện địa hình khó khăn với chiều dài đường cất hạ cánh và dải bảo hiểm đầu (RESA) ngắn, hai đầu giáp biển nên chỉ đáp ứng được với các tàu bay tầm ngắn như ATR72 và Embraer195. Để kéo dài đường cất hạ cánh đảm bảo khai thác tàu bay code C cần có sự đánh giá tổng thể về giải pháp kỹ thuật và an toàn. Bài báo tính toán, đề xuất giải pháp kéo dài đường cất hạ cánh kết hợp đồng thời giải pháp sử dụng vật liệu hãm giữ EMAS nhằm đánh giá điều kiện an toàn phục vụ mục tiêu nâng cao năng lực khai thác của cảng hàng không hiện hữu. Qua kết quả nghiên cứu, đường cất hạ cánh được đề xuất kéo dài lên 2.400m đáp ứng cho các tàu bay code C như A320neo, A320-200, A321neo, A321-200, kết hợp với dải vật liệu EMAS có chiều dài 79,4m. Kết quả cũng được kiểm chứng bằng phần mềm tính toán cho thấy tàu bay A320neo và A321neo sẽ dừng lại ở cách ngưỡng cuối đường băng 69,80 m và 77,72 m tương ứng với các tốc độ thoát là 88,90 km/h và 85,19 km/h, hoàn toàn nằm trong dải RESA thiết kế là 90m.
Khảo sát vùng bóng áp lực khi súng nổ truyền qua mái dốc bằng phần mềm mô phỏng ABAQUS
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Sóng nổ xuất phát từ nổ bom đạn hay nổ các lượng nổ độc lập, hoặc nhóm lượng nổ, luôn là yếu tố được quan tâm do những tác dụng mạnh mẽ mà nó gây ra. Ngoài những tác dụng có lợi khi được chủ động tính toán trong các công tác phá vỡ đất đá, cấu kiện phục vụ thi công xây dựng thì những nguy hại liên quan đến môi trường, công trình nhà cửa hay sức khỏe, tính mạng con người là những vấn đề gắn liền với sóng nổ. Chính vì vậy việc nghiên cứu các đặc điểm của sóng nổ là điều cần thiết. Bài báo tiến hành nghiên cứu vùng khuất của sóng nổ khi truyền qua mái dốc, góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết đối với sóng nổ khi truyền trong không khí, để làm cơ sở cho việc thiết kế các giải pháp an toàn dưới tác dụng của sóng nổ.
Nghiên cứu sư làm việc của trụ cầu dưới tác dụng của tải trọng và xe cộ
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo nghiên cứu sự làm việc của trụ cầu khi chịu va chạm của xe cơ giới, trong bối cảnh hạ tầng giao thông Việt Nam phát triển nhanh kéo theo nguy cơ gia tăng va chạm giữa phương tiện và công trình cầu. Tác giả trình bày hai phương pháp mô tả tải trọng va chạm: mô hình động lực học phi tuyến (VSI) và lực tĩnh tương đương theo tiêu chuẩn. Bài toán khảo sát sử dụng mô hình trụ cầu BTCT trong Midas Civil, xét tải trọng va của xe 20 tấn với các vận tốc 5+25 m/s. Kết quả cho thấy lực va tăng tuyến tính theo vận tốc; giá trị lực theo TCVN 11823:2017 chỉ tương đương vận tốc 5 m/s, thấp hơn nhiều so với các trường hợp vận tốc cao thường gặp khi xe mất lái. Va chạm gây chuyển vị đáng kể tại thân trụ và ứng suất tập trung lớn. Bài báo khuyến nghị cần xem xét bổ sung biện pháp bảo vệ trụ và nghiên cứu mô phỏng chi tiết hơn bằng LS-DYNA hoặc ABAQUS
Phân tích độ nhạy tham số xếp hạng tải trong cầu dầm I dự ứng lực bằng mô phỏng mạng nơ-ron nhân tạo (ann)
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Xếp hạng tải trọng (RF) là thành phần của quy trình kiểm tra cầu được sử dụng để xác định khả năng chịu tải an toàn của cầu. Xếp hạng tải RF là biểu thức phức tạp với đóng góp của nhiều biến tham số cầu về hình học và độ cứng kết cấu, do vậy ảnh hưởng và mối tương quan giữa các tham số này rất khó hình dung và định lượng hiệu quả. Phân tích độ nhạy được thực hiện để thấy rõ mối quan hệ từ bắt nguồn đến kết quả giữa tham số cầu và xếp hạng tải của mô hình. Một cách tăng hiệu quả phương pháp phân tích độ nhạy, mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) đại diện cho mô hình thay thế (Surrogate) để tạo ra một tập hợp các biến tham số cầu ngẫu nhiên độc lập, sau đó đánh giá RF trên mô hình tập hợp này bằng mô phỏng từ mạng ANN. Kết quả phân tích độ nhạy theo phương sai (phương pháp Sobol) chỉ rõ tham số độ cứng kết cấu có ảnh hưởng quyết định đến mô hình xếp hạng RF dầm, đặc biệt “fc bản mặt cầu” tham số có chỉ số độ nhạy vượt trội. Kết hợp mạng ANN, phương pháp nghiên cứu tiện lợi, chính xác cao, thoả mãn tính chất toán học và yêu cầu của phương pháp phân tích độ nhạy.
|
|
|
|