Nghiên cứu khảo sát sự thay đổi thiết kế móng cọc nhà bê tông cốt thép theo hai tiêu chuẩn TCVN 10304-2025 và TCVN 10304-2014
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Móng cọc bê tông cốt thép (BTCT) là bộ phận nền móng chủ yếu của nhiều công trình xây dựng tại Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện địa chất yếu và phức tạp. Tiêu chuẩn TCVN 10304:2014 - Móng cọc - Thiết kế và thi công đã được áp dụng rộng rãi trong hơn một thập kỷ qua. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, tiêu chuẩn này đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, chưa còn phù hợp với yêu cầu thiết kế hiện đại và xu hướng hội nhập quốc tế. Nhằm khắc phục những tồn tại đó và cập nhật các phương pháp tính toán tiên tiến, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành TCVN 10304:2025 - Thiết kế móng cọc, thay thế cho phiên bản năm 2014. Bài báo tập trung phân tích và so sánh những thay đổi cơ bản giữa hai tiêu chuẩn (TC), trong đó nhấn mạnh các nội dung chính sau: phương pháp tính toán theo trạng thái giới hạn; điều chỉnh hệ số độ tin cậy và phân cấp công trình; cập nhật công thức xác định sức chịu tải của cọc theo kết quả xuyên tiêu chuẩn (SPT) và xuyên tĩnh (CPT); bổ sung quy định đối với cọc dài và cọc ngàm vào đá; hiệu chỉnh công thức tính độ lún của nhóm cọc; đồng thời tăng cường yêu cầu về thử tải và kiểm soát chất lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy TCVN 10304:2025 có nhiều điểm mới và tiến bộ, phù hợp hơn với thực tiễn xây dựng trong nước, đồng thời tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế. Những thay đổi này dự kiến sẽ tác động đáng kể đến công tác thiết kế, thi công và quản lý chất lượng móng cọc BTCT tại Việt Nam, giúp nâng cao độ an toàn và độ tin cậy của công trình.
Thiết kế kết cấu dàn phẳng liên hợp thép - bê tông theo tiêu chuẩn Eurocode 4
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Tại Việt Nam, đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn thiết kế riêng cho kết cấu liên hợp thép - bê tông (LHT-BT). Tuy nhiên, loại kết cấu này ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng. Trong thực tế thiết kế và tính toán, các kỹ sư hiện đang tham khảo và áp dụng nhiều tiêu chuẩn nước ngoài khác nhau, như Eurocode 4, ANSI/AISC 360 và GB 55004-2021. Đối với các kết cấu có nhịp lớn, việc sử dụng kết cấu dàn LHT-BT mang lại nhiều hiệu quả kỹ thuật và kinh tế, đồng thời phù hợp với yêu cầu của các công trình hiện đại. Nhưng việc tính toán loại kết cấu này hiện vẫn chưa được đề cập nhiều trong các tài liệu nghiên cứu tại Việt Nam. Bài báo trình bày tổng quan về kết cấu LHT-BT, trong đó tập trung làm rõ đặc điểm của kết cấu dàn liên hợp, ứng dụng thực tế của loại kết cấu này trong xây dựng ở Việt Nam và trên thế giới, cũng như đánh giá ưu điểm và hạn chế khi áp dụng trong công trình xây dựng. Ngoài ra, bài báo còn vận dụng lý thuyết tính toán kết cấu LHT-BT theo tiêu chuẩn châu Âu Eurocode 4, từ đó đề xuất quy trình tính toán và thiết lập các công thức tính toán cho kết cấu dàn liên hợp, có thể áp dụng trong thiết kế thực tế.
Ứng xử động của hệ vòm bê tông cốt thép đúc sẵn phân mảnh có hệ neo được chôn trong đất thông qua mô phỏng số
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Cống hộp bê tông cốt thép (BTCT) và bản đổ tại chỗ thường được ưu tiên áp dụng cho hầm chui nhỏ hay cầu vượt nhịp nhỏ ở cả trong và ngoài đô thị. Tuy nhiên, các kết cấu này có một số nhược điểm như chi phí cao, thời gian thi công kéo dài, mặt bằng thi công lớn, có nguy cơ cao xuất hiện hằn lún tại khu vực tiếp giáp với nền đường. Một dạng kết cấu vòm BTCT đúc sẵn phân mảnh nhỏ mới được đề xuất gần đây có thể giải quyết được các vấn đề này. Đây là dạng gồm các mảnh nhỏ BTCT dạng phẳng đúc sẵn được liên kết với nhau bằng dải thép hình chữ V chịu nén và các neo thép dạng gân liên tục chịu kéo. Để có thể đánh giá khả năng áp dụng của hệ vòm này trong đô thị ở Việt Nam, bài báo tiến hành phân tích ứng xử động tập trung vào chuyển vị và ứng suất của vòm sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn.
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu bê tông nhẹ và cốt thanh GFRP cho kết cấu cầu lắp ghép nhanh trong đô thị
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày nghiên cứu ứng dụng kết hợp bê tông cốt liệu nhẹ và cốt thanh GFRP trong kết cấu cầu lắp ghép nhanh nhằm giảm tải trọng bản thân, nâng cao khả năng chống ăn mòn và rút ngắn thời gian thi công. Các tính chất cơ học, ưu điểm và hạn chế của từng loại vật liệu được phân tích, đồng thời đánh giá hiệu quả ứng dụng qua kết quả tính toán và mô phỏng số. Kết quả cho thấy giải pháp này không chỉ duy trì khả năng chịu lực trong giới hạn tiêu chuẩn mà còn mang lại lợi ích về kinh tế, môi trường và tuổi thọ công trình, phù hợp với xu hướng phát triển hạ tầng giao thông đô thị bền vững.
Ứng dụng mô hình ước tính phát thải và hiệu quả xử lý NOx của mặt đường phủ TiO tại đô thị Hải Phòng
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Ô nhiễm không khí đô thị do giao thông là vấn đề cấp bách, trong đó khí NOx (NO và NO2) đóng vai trò chính trong hình thành khói quang hóa và gây hại sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này nhằm ước tính hiệu quả giảm phát thải NOx khi áp dụng lớp phủ quang xúc tác TiO2 trên mặt đường đô thị, với trường hợp điển hình là tuyến ĐT359 đoạn qua thị trấn Núi Đèo,TP Hải Phòng. Dữ liệu lưu lượng phương tiện thực tế được thu thập và chuẩn hóa sang đơn vị xe con tương đương (PCU) theo TCVN 13592:2022. Hệ số phát thải NOx được tham chiếu từ cơ sở dữ liệu EMEP/EEA (2019) và COPERT v5.7 (2023), áp dụng cho điều kiện đô thị (30 - 50 km/h). Kết quả tính toán cho thấy tổng phát thải NOx trên đoạn 5 km đạt khoảng 440 kg/ngày (tương đương 22.000 g/km-làn/ngày hoặc 5,9 g/m 2 /ngày). Xe máy và xe tải hạng nặng là hai nhóm đóng góp lớn nhất, chiếm lần lượt 41% và 22% tổng phát thải. Khi áp dụng lớp phủ quang xúc tác TiO2, lượng phát thải giảm ước tính 15 - 45%, tương đương 66 - 198 kg/ngày. Các giá trị này phù hợp với kết quả thực địa được báo cáo trong nghiên cứu quốc tế, khẳng định tính khả thi khi áp dụng tại điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng hiệu quả giảm phụ thuộc đáng kể vào tốc độ vận hành, điều kiện chiếu sáng và độ bền vật liệu. Lợi ích môi trường được ghi nhận tương đương 20 - 60 tấn NOx/năm trên đoạn tuyến 5 km, cho thấy lớp phủ quang xúc tác có tiềm năng đóng góp vào mục tiêu phát triển giao thông đô thị xanh. Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở gồm thử nghiệm hiện trường quy mô nhỏ, so sánh hiệu quả giữa các loại vật liệu TiO2 biến tính và áp dụng mô hình phát tán khí để đánh giá tác động đến khu dân cư ven đường.
Thiết kế điều khiển điện áp bộ chuyển đổi Buck-Boost dựa trên mô hình logic hỗn hợp kết hợp với điều khiển dự báo mô hình
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày một phương pháp thiết kế bộ điều khiển điện áp cho bộ chuyển đổi Buck-Bunst dựa trên môn hình logic hỗn hợp (Mixed Logical Dynamical - MLD) kết hợp với điều khiển dự báo môn hình (Model Predictive Control - MPC). Bộ chuyển đổi Buck- Boost là một hệ phi tuyến có đặc tính rời rạc do quá trình đáng mở của khóa bán dẫn, đồng thời chịu các ràng buộc vật lý về cả dòng điện và điện áp. Để mô tả chính xác hệ thống, mô hình MLD được xây dựng nhằm liên kết phần động học tuyến tính với phần logic chuyển mạch. Dựa trên mô hình này, bộ điều khiển MPE được thiết kế dưới dạng bài toán tối ưu tuyến tính số nguyên hỗn hợp (MILP) để xác định tín hiệu điều khiển tối ưu tại mỗi chu kỳ lấy mẫu, đảm bảo điện áp đầu ra bám sát giá trị đặt và tuân thủ các ràng buộc có sẵn. Kết quả mô phỏng được thực hiện bằng ngôn ngữ HYSDEL và Matlab/Simulink cho thấy tính hiệu quả của phương pháp được đề xuất.
Giải pháp quản lý kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Thuận Thành III, tỉnh Bắc Ninh
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Khu công nghiệp (KCN) Thuận Thành III, tỉnh Bắc Ninh, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung vào Quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam theo Văn bản số 1545/TTg-KTN ngày 18/09/2008 và Công văn số 14D2/TTg-CN ngày 15/1D/2D2D, với tổng diện tích 536,23 ha. Hiện nay, các công trình hạ tầng kỹ thuật của KCN Thuận Thành III đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, công tác quản lý các công trình hạ tầng kỹ thuật của KCN này vẫn còn một số bất cập. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật giữa bên trong và bên ngoài KCN chưa đồng bộ, gây ảnh hưởng đến quá trình vận hành và khai thác sử dụng. Một số vấn đề trong công tác quản lý kỹ thuật vẫn chưa được thực hiện hiệu quả. Dựa trên một số cơ sở khoa học, nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp quản lý kỹ thuật cụ thể đối với một số hạng mục hạ tầng như: Giao thông, thoát nước thải, thoát nước mưa, quản lý chất thải rắn (CTR)... Đây là những giải pháp phù hợp với quy môn, tính chất và đặc thù của KCN, đồng thời hứa hẹn mang lại hiệu quả thiết thực cho KCN Thuận Thành III nói riêng và các KCN trên địa bàn tỉnh nói chung
Tính toán và so sánh hệ số động lực cho cầu đường sắt và đường sắt tốc độ cao theo tiêu chuẩn thiết kế của Việt Nam và một số nước trên thế giới
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Hệ số động lực (Dynamic Amplification Factor DAF) là một trong những thông số quan trọng nhất để đánh giá ứng xử động lực của cầu do tác dụng động lực của ô tô, đoàn tàu đường sắt, đoàn tàu cao tốc di động trên cầu. Thông số này được sử dụng trong các tiêu chuẩn thiết kế cầu thay cho việc phân tích trực tiếp hiệu ứng động lực theo mô hình đồng bộ đoàn tàu - đường ray - kết cấu cầu. Từ DAF và các mối quan hệ có thể suy ra những phương án thay thế tốt cho phân tích động lực học do tiết kiệm thời gian và chi phí tính toán. Mặc dù được đánh giá là có tầm quan trọng rất lớn nhưng phương pháp tính hệ số động lực theo các tiêu chuẩn thiết kế cầu đường sắt và cầu trên đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) của các nước trên thế giới lại không thống nhất, dẫn đến các giá trị đưa vào tính toán có những khác biệt đáng kể. Bài báo giới thiệu kết quả phân tích so sánh cách tính hệ số động lực cho cầu đường sắt và cầu ĐSTĐC theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn của một số nước làm cơ sở phục vụ nghiên cứu và thiết kế các công trình cầu đường sắt và ĐSTĐC ở Việt Nam.
|
|
|
|