Duyệt theo bộ sưu tập Bài trích (Tất cả)
Thiết kế và phân tích kết cấu thép bộ kẹp gáp gỗ của máy đào một gàu Từ khóa: (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài bảo trình bày kết quả nghiên cứu thiết kế và phân tích kết cấu thép của bộ kẹp gắp gỗ lắp trên máy đào một gầu truyền động thủy lực. Trên cơ sở phân tích cấu tạo và nguyên lý làm việc của bộ kẹp, tác giả xây dựng mô hình tính toán lực kẹp, xác định tải trọng làm việc và tiến hành thiết kế kết cấu cơ khí của bộ kẹp. Mô hình 3D được xây dựng trên phần mềm SolidWorks và phân tích phần tử hữu hạn (FEA) được thực hiện bằng SolidWorks Simulation nhằm đánh giá ứng suất, biển dạng và hệ số an toàn của kết cấu. Kết quả cho thấy phương án thiết kế đảm bảo khả năng làm việc đối với điều kiện kẹp gỗ, đồng thời chỉ ra các vùng nguy hiểm cần gia cường khi làm việc với tải trọng lớn hơn.

Ước lượng nhiều bằng mạng nơ-ron nhằm nâng cao hiệu năng bộ điều khiển pid cho cơ cấu bốn khâu bản lề (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo này đề xuất một phương pháp điều khiển kết hợp giữa PID và mạng nơ-ron nhằm cải thiện khả năng bám quỹ đạo của cơ cấu bốn khâu trong điều kiện có nhiễu. Trong các hệ cơ khi thực tế, các yếu tố bất định như ma sát khớp, thay đổi tại và nhiễu từ môi trường có thể làm suy giảm đáng kể độ chính xác điều khiển. Để khắc phục vấn đề này, một mạng nơ-ron được sử dụng để ước lượng nhiễu dựa trên trạng thái hệ và tín hiệu điều khiển, sau đó được dùng để bù vào tín hiệu điều khiển PID theo thời gian thực. Một mô hình động lực học rút gọn của cơ cấu bốn khâu được sử dụng để đánh giá phương pháp đề xuất. Nhiễu được mô hình hóa bao gồm cả thành phần biến thiên theo thời gian và thành phần ma sát phụ thuộc vận tốc, giúp phản ảnh tốt hơn các đặc tính của hệ cơ khi. Kết quả mô phỏng trong nhiều trường hợp nhiều cho thấy phương pháp PID kết hợp mạng nơ-ron giúp giảm đáng kể sai số bảm quỹ đạo so với PID truyền thống. Điều này khẳng định hiệu quả của phương pháp bù nhiễu bằng mạng nơ-ron trong việc nâng cao độ bền vững và hiệu năng điều khiển.

Ước tính độ biến dạng của tháp tuốc bin gió dựa trên máy quét laser trên mặt đất (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tái tạo ngày càng gia tăng, các tuabin gió hiện đại có xu hướng phát triển với kích thước lớn hơn, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về tải trọng động và độ phức tạp trong ứng xử kết cấu của tháp. Do đó, việc ước tính chính xác độ biến dạng của tháp tuabin gió đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quan trắc kết cấu công trình, đánh giá hiệu năng vận hành và kiểm chứng các mô hình số. Bài báo này đề xuất một phương pháp đo không tiếp xúc nhằm xác định độ biến dạng của tháp tuabin gió dựa trên công nghệ quét laser mặt đất (Terrestrial Laser Scanning – TLS). Phương pháp cho phép đồng thời xác định chuyển vị theo phương trục và phương ngang chỉ từ một vài vị trí quan sát, không yêu cầu gắn thiết bị hoặc sửa đổi kết cấu. Chiến lược quét được xây dựng để thu nhận các mặt cắt ngang của tháp, từ đó độ biến dạng được xác định thông qua kỹ thuật xấp xỉ đường cong. Các thí nghiệm thực địa được thực hiện trên tuabin gió đang vận hành nhằm đánh giá tỉnh khả thi và độ chính xác của phương pháp. Kết quả cho thấy phương pháp TLS có khả năng đo đạc đảng tin cậy ở khoảng cách lớn (trên 128 m) và phù hợp cho giám sát từ xa. Phương pháp đề xuất mở ra tiềm năng ứng dụng hiệu quả trong các hệ thống giám sát kết cấu và tích hợp với mô hình số hiện đại.

Nghiên cứu thiết kế đạn nhiều đầu chống uav tầm gần dùng cho súng bộ binh (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo nghiên cứu mô hình đạn súng nhiều đầu (nhiều phần tử sát thương) cỡ 7,62 mm nhằm nâng cao hiệu quả tác chiến đối với các mục tiêu bay thấp, cỡ nhỏ và cơ động như phương tiện bay không người lái (UAV). Cấu hình đề xuất bao gồm ba đầu đạn con có khả năng phân tách khi động học sau khi rời miệng nòng, tạo ra vùng bao phủ điểm chạm diện rộng thay vì một điểm đơn lẻ như đạn truyền thống. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng số động lực học chất lưu (CFD) để xác định các đặc trưng khi động và hệ số lực cản chính diện (C ) của từng thành phần. Trên cơ sở đó, tính toán và kiểm chứng thông qua thực nghiệm bắn thử để đánh giá phân bố vùng điểm chạm. Kết quả cho thấy, với sơ tốc đầu nòng 550 m/s, thiết kế đạn nhiều đầu cho phép tạo ra số lượng điểm chạm cao gấp 3 lần so với đạn đơn truyền thống. Vùng phân bố điểm chạm tại cự ly 75 m và 100 m lần lượt đạt bán kính 37 cm và 75 cm, khẳng định khả năng tối ưu hóa trong việc tiêu diệt mục tiêu UAV cỡ nhỏ và sinh lực địch ở tầm gần.

Tối ưu hóa đa mục tiêu hộp giảm tốc bánh răng cấp chậm phân đội bằng thuật toán nsga-ii và edas: giảm thiểu diện tích mặt cắt ngang và tối đa hóa hiệu suất (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Nghiên cứu này trình bày phương pháp tối ưu hóa đa mục tiêu cho hộp giảm tốc bánh răng trụ răng nghiêng hai cấp có cấp ra phân đội nhằm đồng thời giảm nhỏ nhất diện tích mặt cắt ngang

Nghiên cứu, thiết kế bộ điều khiển cánh tay robot 6 bậc tự do dựa trên phương pháp học tăng cường mềm ACTOR-CRITIC (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Điều khiển chính xác cánh tay robot trong môi trường động, bất định là thách thức lớn đối với các bộ điều khiển kinh điển và các phương pháp hiện đại như điều khiển thích nghi hay điều khiển tối ưu. Mặc dù học tăng cường sâu (DRL) đã mở ra hướng đi mới, nhưng vẫn bộc lộ hạn chế về tính hội tụ cục bộ và thiếu sự cân bằng trong chiến lược khám phá không gian. Để giải quyết triệt để vấn đề này, bài báo đề xuất một bộ điều khiển tiên tiến cho cánh tay robot 6 bậc tự do (6- DOF) dựa trên phương pháp học tăng cường mềm Actor-Critic (Soft Actor-Critic - SAC). Trong nghiên cứu này, hệ thống trạng thái trước tiên được thiết lập các phương trình động học, động lực học và mô hình hóa dưới dạng quá trình quyết định Markov (MDP). Không gian trạng thái, hàm phần thưởng đa mục tiêu và cấu trúc mạng nơ-ron Actor-Critic được thiết kế nhằm tối đa hóa phần thưởng tích lũy kết hợp với cực đại hóa entropy. Cơ chế này giúp robot khám phá môi trường hiệu quả, tránh rơi vào các điểm tối ưu cục bộ và bám quỹ đạo trơn tru. Để kiểm chứng, bộ điều khiển được áp dụng vào bài toán thực nghiệm động lực học phức tạp: điều khiển robot dự đoán và đánh trúng quả bóng bàn với các quỹ đạo rơi ngẫu nhiên. Kết quả kỳ vọng cho thấy thuật toán SAC vượt trội về tốc độ hội tụ, độ ổn định và khả năng phản xạ theo thời gian thực, khẳng định tiềm năng to lớn trong việc giải quyết các tác vụ đa nhiệm phức tạp.

Chuyển đổi cad sang đô thị theo cơ chế xác định với kiểm chứng độ tin cậy ở quy mô toàn bộ tập dữ liệu (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo đề xuất một phương pháp chuyển đổi mô hình CAD sang cấu trúc đồ thị theo cơ chế xác định, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và khả năng tái lập kết quả. Trên cơ sở bộ dữ liệu MFCAD gồm các mô hình STEP có gán nhãn theo từng mặt, quy trình được xây dựng để bảo đảm đánh chỉ số mặt ổn định, đồng bộ giữa mặt trích xuất và nhãn ngữ nghĩa, đồng thời tạo ra các đồ thị liên thông ở quy mô toàn bộ tập dữ liệu. Độ tin cậy của phương pháp được đánh giá thông qua các chỉ số cấu trúc và cơ chế băm đồ thị chuẩn hóa, cho phép so sánh định lượng giữa các lần thực thi. Kết quả cho thấy toàn bộ mô hình được chuyển đổi thành công, bảo đảm tính liên thông, đầy đủ nhãn và khả năng tải lập tuyệt đối. Mã nguồn và các cấu hình thí nghiệm được chia sẻ công khai tại GitHub nhằm phục vụ kiểm chứng và tải sử dụng. Phương pháp đề xuất cung cấp một nền tảng minh bạch và có thể kiểm chứng cho các nghiên cứu CAD dựa trên đồ thị.

Thực nghiệm đánh giá độ không đảm bảo trong phép đo đường kính mặt cầu bằng máy đo tọa độ (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Máy đo tọa độ (CMM) được sử dụng rộng rãi trong đo lường cơ khí để xác định các đặc trưng hình học của chi tiết từ dữ liệu tọa độ ba chiều. Đối với bề mặt dạng cầu, đường kính được xác định từ tập hợp điểm đo thông qua một tiêu chi xử lý dữ liệu nhất định. Vì vậy, kết quả đo không chỉ chịu ảnh hưởng của sai số CMM và số lượng điểm đo, mà còn phụ thuộc vào tiêu chí xử lý dữ liệu và sai lệch hình dạng của chi tiết đo. Nghiên cứu này xây dựng phương pháp đánh giá độ không đảm bảo đo đường kính mặt cầu theo định hướng của ISO 15530-3 trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm định lượng. Thực nghiệm được thực hiện trên máy CMM Mitutoyo Crysta-Apex S544 với hai quy trình lấy mẫu gồm 12 điểm và 20 điểm. Mô hình đánh giá xét đến các thành phần liên quan , đến chi tiết chuẩn, độ lặp lại của quy trình đo, sai số hệ thống và sai lệch độ cầu của chi tiết đo. Kết quả cho thấy độ không đảm bảo đo mở rộng lần lượt là 0,00616 mm và 0,00514 mm đối với đo 12 điểm và 20 điểm, với hệ số phủ k = 2.quy trình H2O 16m

Nghiên cứu thực nghiệm sáy cà rốt trên máy sấy năng lượng mặt trời (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Sấy nông sản bằng năng lượng mặt trời là một giải pháp phù hợp nhằm tận dụng nguồn năng lượng tái tạo, giảm tiêu thụ năng lượng hóa thạch và nâng cao tính bền vững trong chế biến thực phẩm. Trong nghiên cứu này, quá trình sấy cà rốt bằng hệ thống sấy năng lượng mặt trời giản tiếp đối lưu tự nhiên và đối lưu cưỡng bức được khảo sát. Hệ thống được thiết kế và chế tạo phù hợp với điều kiện khí hậu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thực nghiệm cho thấy nhiệt độ trung bình của không khí đi vào buồng sấy khi đối lưu tự nhiên khoảng 47.4°C, khi đối lưu cưỡng bức khoảng 37.5°C; Độ ẩm của cà rốt có thể giảm từ 89.60% xuống khoảng 10% sau 6 giờ sấy với đối lưu tự nhiên và 3.5 giờ sấy với đối lưu cưỡng bức. Sấy đối lưu cưỡng bức giúp giảm thời gian sấy khoảng 42% so với sấy đối lưu tự nhiên, đồng thời cải thiện màu sắc và độ đồng đều của sản phẩm. Kết quả này cho thấy phương pháp sấy năng lượng mặt trời có khả năng làm khô cà rốt hiệu quả, đồng thời thể hiện tiềm năng ứng dụng trong quy mô hộ gia đình và sản xuất nhỏ.

Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quan sát hình ảnh và đánh giá định lượng ngoại dạng mối hàn MAG (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo trình bày một phương pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tự động quan sát và đánh giá định lượng ngoại dạng mối hàn sau quá trình hàn MAG sử dụng dây lõi thuốc có lót sứ ceramic trên thép carbon CT3 dày 12 mm. Nghiên cứu xây dựng một bộ dữ liệu ảnh chuyên biệt từ các mẫu hàn thực nghiệm, đề xuất mô hình Al lại kết hợp phân đoạn ảnh và trích xuất đặc trưng hình học, đồng thời kiểm chứng thực tế trong điều kiện gần sản xuất công nghiệp. Kết quả cho thấy mô hình có khả năng nhận diện ổn định vùng mối hàn, trích xuất chính xác các thông số ngoại dạng và đạt các chỉ số đánh giá cao hơn so với các mô hình nhận diện đường hàn hiện có. Bộ dữ liệu gồm các ảnh RGB chụp sau hàn bằng camera công nghiệp độ phân giải 1920 × 1080 pixel, thu nhận từ nhiều góc quan sát dưới ánh sáng khuếch tán để giảm ảnh hưởng của phản xạ bề mặt. Tổng cộng 360 ảnh mối hàn được tạo ra từ 30 thí nghiệm thực nghiệm với chiều dài mối hàn 200 mm/mẫu. Dữ liệu được gán nhãn theo hai cấp gồm vùng mối hàn và vùng khuyết tật bề mặt, đồng thời trích xuất các tham số hình học chuẩn như chiều rộng bead, reinforcement, độ lồi, góc chuyển tiếp chân mối hàn, độ sâu undercut và chỉ số đồng đều bề mặt.