Duyệt theo bộ sưu tập Tất cả (Tất cả)
Đánh giá tác động rủi ro trong giai đoạn thực hiện dự án xây dựng chung cư cao tầng tại Hà Nội bằng mô hình SEM (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Nghiên cứu phân tích tác động của các nhóm rủi ro đến mức độ kém hiệu quả trong giai đoạn thực hiện dự án chung cư cao tầng tại Hà Nội thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Dữ liệu khảo sát gồm 325 phản hồi với 43 biến quan sát, được xử lý qua các bước Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và kiểm định PLS-SEM. Kết quả cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy cao, có giá trị hội tụ và phân biệt tốt, đồng thời mô hình phù hợp với dữ liệu. Tất cả 12 giả thuyết (H1-H12) đều có ý nghĩa thống kê. Trong đó, rủi ro thiết kế và thi công (β = 0.746) cùng rủi ro tài chính (β = 0.723) có ảnh hưởng mạnh nhất tới mức độ kém hiệu quả, tiếp theo là rủi ro quản lý, pháp lý, môi trường, thị trường và cạnh tranh. Mô hình cũng chỉ ra các quan hệ gián tiếp, thể hiện cơ chế lan truyền rủi ro giữa các nhóm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một tiếp cận quản lý rủi ro tích hợp nhằm kiểm soát sớm các yếu tố kỹ thuật và tài chính, đồng thời tăng cường năng lực điều hành và khả năng thích ứng với thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các dự án chung cư cao tầng tại Việt Nam.

Thiết kế bộ điều khiển trượt với thời gian hội tụ hữu hạn cho hệ thống ổn định lắc Rotor Magnus (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Trong nghiên cứu này, bộ điều khiển trượt với thời gian hội tụ hữu hạn (Finite-time Sliding Mode Control - FTSMC) được đề xuất nhằm ổn định chuyển động lắc ngang của tàu thủy sử dụng hệ thống rotor Magnus dưới tác động của nhiễu giới hạn từ môi trường biển. Trước hết, mặt trượt phi tuyến dạng lũy thừa kép được xây dựng để đảm bảo quá trình hội tụ nhanh chóng trong thời gian hữu hạn. So với các phương pháp điều khiển tiệm cận, bộ điều khiển đề xuất cho phép trạng thái của hệ thống đạt đến điểm cân bằng trong một khoảng thời gian hữu hạn phụ thuộc vào các tham số của bộ điều khiển, qua đó cải thiện đáng kể tốc độ đáp ứng và khả năng bền vững. Dựa trên lý thuyết ổn định Lyapunov, tính ổn định hữu hạn thời gian của hệ thống kín được chứng minh một cách chặt chẽ. Cuối cùng, mô phỏng số được thực hiện trong môi trường MATLAB để đánh giá hiệu quả và độ bền vững của bộ điều khiển đề xuất so với điều khiển trượt thông thường.

Giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống báo hiệu luồng hàng hải cảng Sơn Dương (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác và vận hành hệ thống báo hiệu hàng hải trên tuyến luồng Sơn Dương - một trong những khu vực hàng hải trọng điểm của khu vực Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở phân tích các yếu tố kỹ thuật, pháp lý và điều kiện khai thác thực tế, nghiên cứu chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong cấu trúc, công nghệ và mô hình quản lý báo hiệu hiện nay. Từ đó, bài báo đề xuất nhóm giải pháp mang tính tổng thể, bao gồm: Ứng dụng công nghệ số và hệ thống giám sát từ xa; tiêu chuẩn hóa đặc tính báo hiệu theo khuyến nghị IALA; tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo; hoàn thiện quy trình quản lý, bảo trì thiết bị. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm an toàn hàng hải, giảm thiểu rủi ro tai nạn, tối ưu hóa chi phí vận hành và thúc đẩy hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật hàng hải, phù hợp với định hướng phát triển bền vững và chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030.

Phương pháp điều khiển bộ chuyển đổi nguồn DC-DC buck trên cơ sở PID, GA và logic mờ DC-DC buck power converter control methods based on PID, GA and Fuzzy logic (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo đưa ra phương pháp thiết kế bộ điều khiển trên cơ sở sử dụng PID, GA và logic mờ (PID-GA-F) để điều khiển điện áp đầu ra của bộ biến đổi DC-DC buck có tính toán đến tải thay đổi. Đầu tiên xác định mô hình toán học của bộ biến đổi DC-DC buck, tiếp theo tổng hợp bộ điều khiển PID và sau đó thiết kế bộ điều PID-GA-F để điều khiển ổn định điện áp đầu ra cho bộ biến đổi DC-DC buck. Chất lượng của hệ thống điều khiển bộ biến đổi DC-DC buck khi sử dụng bộ điều khiển PID-GA-F được đánh giá và so sánh với hệ thống điều khiển sử dụng bộ điều khiển PID với nhiều điều kiện tải khác nhau. Các kết quả mô phỏng bằng phần mềm Matlab-Simulink đã chỉ rõ bộ điều khiển PID-GA-F đã nâng cao được chất lượng điều khiển điện áp đầu ra của bộ biến đổi DC-DC buck.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho giao diện hiển thị trước mắt (HUD) hỗ trợ điều động USV trong môi trường cảng thông minh (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Xu hướng ứng dụng phương tiện tự hành mặt nước trong cảng biển thông minh trong khảo sát, theo dõi chất lượng môi trường nước và nguy cơ ô nhiễm ngày càng được phát triển. Trong khi USV vận hành trong cảng chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác động môi trường như mưa, sương, ánh sáng sẽ làm giảm nhận thức tình huống và gây khó khăn cho điều động. Bên cạnh đó, công nghệ trí tuệ nhân tạo ứng dụng trong ngành Hàng hải giúp tăng cường khả năng điều động và ngăn chặn các tình huống nguy hiểm xảy ra. Bài báo đề xuất phương pháp xây dựng, phát triển AI-enabled HUD hiển thị ngay trong tầm nhìn để hỗ trợ điều khiển USV và giảm độ trễ, sai số điều hướng. Các cảm biến GNSS, IMU-9DOF, camera AI được tích hợp và hiển thị thông tin lên HUD. Phương pháp thử nghiệm dựa trên môi trường mô phỏng hàng hải và thực địa quy mô nhỏ tại cảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng E2E latency < 100 ms, sai số ổn định overlay < 1,00 yaw, < 0,50 roll/pitch, giảm head-down time ≥ 20%. Nghiên cứu cho thấy khả năng ứng dụng mô hình cho nhiều đối tượng khác nhau và có thể đo lường được trong quá trình chuyển đổi số tại cảng thông minh.

Đánh giá khả năng xây dựng hệ công trình xử lý chất thải theo định hướng kinh tế tuần hoàn sinh học cho dự án Trang trại CMC tại Mường La (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Với những thách thức môi trường ngày càng gia tăng từ các hoạt động trang trại mô lớn, bao gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và chất thải rắn, việc nghiên cứu những giải pháp xử lý chất thải bền vững đã trở thành yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển kinh tế khu vực. Bài báo đưa ra phân tích các kịch bản xử lý chất thải theo định hướng kinh tế sinh học tuần hoàn cho dự án của Công ty cổ phần CMC Mường La, kết quả nghiên cứu tập trung vào trang trại CMC Mường La, với diện tích trên 60 hecta qua ba xã (Tạ Bú, Chiềng San và Chiềng Hoa) với tổng công suất khoảng 16.000 đơn vị vật nuôi. Ba kịch bản cho hệ thống xử lý chất thải đã được xây dựng và phân tích theo các khía cạnh kinh tế và môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy Kịch bản 2 “Tích hợp vi tảo trong hệ xử lý nước thải để sản xuất thức ăn chăn nuôi” có hiệu quả kinh tế với tính bền vững môi trường thông qua việc tái chế dinh dưỡng, cố định CO₂, và tái sử dụng nước. Nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị thực hiện bao gồm cách tiếp cận theo từng giai đoạn: thử nghiệm quy mô pilot (1-3 năm), tích hợp hệ thống và tối ưu hóa (3-7 năm), và ứng dụng quy mô lớn với sự hỗ trợ chính sách (7-10 năm).

Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay, xỉ lò cao đến các đặc trưng cơ học của bê tông xi măng cốt liệu tái chế trong xây dựng mặt đường (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Sử dụng cốt liệu tái chế từ phế thải công trình xây dựng kết hợp tro bay (FA), xỉ lò cao (GGBFS) cho bê tông xi măng (BTXM) trong xây dựng mặt đường góp phần bảo vệ môi trường. Bài báo phân tích ảnh hưởng của (FA) với các tỷ lệ: 0%, 15%, 30%; (GGBFS) với các tỷ lệ: 0%, 20%, 40% đến một số đặc trưng cơ học của bê tông xi măng sử dụng 20% cốt liệu tái chế (RA) được thiết kế trong xây dựng mặt đường. Kết quả cho thấy khi sử dụng (FA) và (GGBFS) các cường độ chịu nén, cường độ kéo uốn và cường độ kéo bửa phát triển chậm hơn ở tuổi 7 ngày và 28 ngày ở tuổi 90 ngày khi sử dụng (FA) và (GGBFS) cường độ cao hơn khi chỉ sử dụng xi măng làm chất kết dính với tỷ lệ phụ thuộc vào từng yếu tố khảo sát là FA và GGBFS, cũng như là tỷ lệ sử dụng tương ứng. Cường độ chịu kéo uốn của bê tông xi măng sử dụng 20% cốt liệu tái chế kết hợp với FA hoặc GGBFS hoặc kết hợp đồng thời cả 2 yếu tố trên đáp ứng được yêu cầu trong xây dựng mặt đường.

Rủi ro địa chất - thủy TP.HCM: Hệ quả và thách không gian ngầm (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Không gian ngầm (KGN) đang trở thành một hướng phát triểntất yếu của các đô thị lớn trên thế giới, góp phần hướng tớimục tiêu phát triển bền vững. Trong bối cảnh TP.HCM có tốc độ gia tăng dân số nhanh, quỹ đất ngày càng khan hiếm và áp lực lên hạ tầng đô thị không ngừng gia tăng, việc khai thác và pháthuy tiềm năng KGN trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, đặc điểm địa chất - thủy văn phức tạp cùng tình trạng khai thác nước ngầm và sụt lún đô thị diễn biến mạnh mẽ đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quy hoạch và xây dựng công trình ngầm. Bàibáo trình bày kết quả phân tích dữ liệu từ khảo sát địa chất tại khu vực TP.HCM, bao gồm mười hố khoan, hơn 180 mẫu thínghiệm cơ lý, nhằm làm rõ cấu trúc địa tầng và tính chất cơ học - thủy lực của đất nền. Kết quả cho thấy lớp sét Holocenenông có độ ẩm tự nhiên cao (W ≈ 59%), hệ số nén lún lớn (a₁–₂ ≈ 0.101 cm²/kg) và góc ma sát trong thấp (φ ≈ 4°53’),tiềm ẩn nguy cơ lún trên diện rộng đáng kể cho công trình ngầm. Trong khi đó, các lớp cát xen kẽ (4a, 6, 8, 11) có độ thấmlớn (Ky ≈ 10⁻⁵ - 10⁻⁶ cm/s), làm tăng rủi ro dòng thấm vàhiện tượng nước tràn vào hầm trong giai đoạn thi công. Bằng cách kết hợp dữ liệu địa chất - thủy văn trong nước với các nghiên cứu quốc tế dựa trên khảo sát InSAR, mô hình 3D, bàibáo cung cấp một nền tảng khoa học cho việc nhận diện rủi rovà đề xuất giải pháp thiết kế, giám sát, quản lý khai thác KGN tại TP.HCM trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng.

Chuyển vị bề mặt đất khi sóng cắt lan truyền trong môi trường đất ngẫu nhiên (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Đất là môi trường không đồng nhất với tính chất cơ lý biến đổi ngẫu nhiên theo các chiều không gian. Do đó, khi sóng địa chấn lan truyền, chuyển vị bề mặt đất phụ thuộc rất lớn vào tính chất và quy luật của sự phân bố ngẫu nhiên này. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu trước đây tập trung vào các lớp đất phân bố ngang với các thông số cơ lý là hằng số. Bài báo này sử dụng phương pháp Phổ để phát sinh môi trường đất với vận tốc truyền sóng cắt VS phân bố ngẫu nhiên tương quan hai chiều. Sau đó, phương pháp Phần tử hữu hạn được sử dụng để phân tích quy luật phân bố chuyển vị bề mặt đất khi sóng cắt lan truyền. Kết quả của mô phỏng số được so sánh với kết quả từ phương pháp Ma trận độ cứng. Sau khi độ tin cậy được kiểm chứng, mô phỏng số được sử dụng để phân tích sự phân bố và khuếch đại của chuyển vị bề mặt đất trong các trường ngẫu nhiên với các thông số khác nhau của chiều dài tương quan và hệ số biến thiên COV. Kết quả cho thấy hệ số khuếch đại chuyển vị AF biến động mạnh và phân tán hơn khi COV tăng và chiều dài tương quan giảm. So sánh với mô hình đất có VS là hằng số, giá trị mode của tần số cộng hưởng cơ bản giảm 23% khi COV = 20% và giảm 37% khi COV = 40%. Đặc biệt, mô hình ngẫu nhiên phát sinh chuyển vị đứng bề mặt, với AF trung bình từ 0.3 đến 0.8 khi COV = 20%, và từ 1.0 đến 1.7 khi COV = 40%.

Độ bền của cấu kiện chữ C tạo hình nguội chịu uốn quanh trục không đối xứng theo các phương pháp của Tiêu chuẩn AISI S100 (0) (Lượt lưu thông:0) (1) (Lượt truy cập:0)

Bài báo trình bày phương pháp xác định độ bền của cấu kiện thép tạo hình nguội tiết diện chữ C chịu uốn quanh trục không đối xứng với bản bụng chịu nén theo phương pháp Bề rộng hữu hiệu (Effective Width Method) của tiêu chuẩn AISI S100. Ví dụ tính toán được thực hiện nhằm minh họa quy trình áp dụng của phương pháp. 16 tiết diện thương mại của hãng Lysaght được sử dụng để đánh giá khả năng dự đoán độ bền của dạng chịu lực nghiên cứu theo phương pháp Cường độ trực tiếp (Direct Strength Method) trong hai phiên bản tiêu chuẩn AISI S100-16 (2016) và AISI S100-24 (2024), dựa trên cơ sở so sánh với kết quả tính toán theo phương pháp Bề rộng hữu hiệu. Kết quả cho thấy, khi áp dụng phương pháp Cường độ trực tiếp, độ bền dự đoán theo AISI S100-24 cao hơn đáng kể so với AISI S100-16. Tuy nhiên, so với độ bền tính toán bằng phương pháp Bề rộng hữu hiệu, AISI S100-24 có xu hướng dự đoán mất an toàn, trong khi AISI S100-16 thể hiện xu hướng bảo thủ hơn.