• Bài trích
  • Nhan đề: Chỉ số HPR và chủ trương thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp tại Việt Nam

Tác giả CN Phạm Trọng Thuật
Nhan đề Chỉ số HPR và chủ trương thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp tại Việt Nam
Tóm tắt Trong những năm gần đây, giá nhà tại các đô thị lớn của Việt Nam tăng nhanh hơn đáng kể so với thu nhập của người dân, làm suy giảm khả năng tiếp cận nhà ở của nhóm thu nhập trung bình. Theo một số ước tính thị trường, chỉ số HPR (House Price to Incume Ratin) tại Hà Nội và TP.HCM hiện đã vượt mức 30 lần, cao hơn nhiều so với ngưỡng bền vững 3-5 lần thường được khuyến nghị trong các nghiên cứu quốc tế. Điều này cho thấy sự mất cân đối ngày càng rõ giữa giá nhà và năng lực tài chính của hộ gia đình đôn thị [I], [2]. Trong bối cảnh đó. Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý cho Nghị quyết thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp nhằm tạo thêm một phân khúc trung gian giữa nhà ở xã hội và nhà ở thương mại thông thường. Chính sách này dự kiến áp dụng một số cơ chế ưu đãi như rút gọn thủ tục đầu tư, mở rộng khả năng tiếp cận đất đai, hỗ trợ tín dụng và quy định lợi nhuận định mức đối với chủ đầu tư, đồng thời hạn chế chuyển nhượng trong thời gian nhất định để đảm bảo phục vụ nhu cầu ở thực. Bài viết sử dụng chỉ số HPR cùng các chỉ số bổ trợ như PIR và PT để phân tích khả năng chi trả nhà ở tại Việt Nam, đồng thời đánh giá tác động tiềm năng của chính sách thí điểm nêu trên. Kết quả cho thấy việc phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp là cần thiết, nhưng hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng tạo lập quỹ đất phù hợp, thiết kế hệ thống tín dụng dài hạn và xây dựng cơ chế theo dõi định kỳ các chỉ số khả năng chi trả nhà ở [3]. Trên cơ sở đó, bài viết khuyến nghị một số định hướng chính sách nhằm đưa giá nhà về vùng chi trả phù hợp hơn với thu nhập của hộ gia đình đô thị, góp phần hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường nhà ở Việt Nam.
Từ khóa tự do chính sách nhà ở
Từ khóa tự do HPR
Từ khóa tự do nhà ở thương mại giá phù hợp
Từ khóa tự do Thị trường nhà ở
Nguồn trích Xây dựng : tạp chí xây dựng Việt nam - Bản quyền thuộc bộ xây dựng2026-6-1tr. Số: 04 Tập: 2026
00000000nab#a2200000ui#4500
00161758
0026
004587A2707-157C-476E-8FD6-33A2D9FA8F75
005202606011619
008081223s VN| vie
0091 0
039|y20260601161958|zcuonglv
040 |aTV EAUT
041 |avie
044 |avm
10010|aPhạm Trọng Thuật
245 |aChỉ số HPR và chủ trương thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp tại Việt Nam
520 |aTrong những năm gần đây, giá nhà tại các đô thị lớn của Việt Nam tăng nhanh hơn đáng kể so với thu nhập của người dân, làm suy giảm khả năng tiếp cận nhà ở của nhóm thu nhập trung bình. Theo một số ước tính thị trường, chỉ số HPR (House Price to Incume Ratin) tại Hà Nội và TP.HCM hiện đã vượt mức 30 lần, cao hơn nhiều so với ngưỡng bền vững 3-5 lần thường được khuyến nghị trong các nghiên cứu quốc tế. Điều này cho thấy sự mất cân đối ngày càng rõ giữa giá nhà và năng lực tài chính của hộ gia đình đôn thị [I], [2]. Trong bối cảnh đó. Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý cho Nghị quyết thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp nhằm tạo thêm một phân khúc trung gian giữa nhà ở xã hội và nhà ở thương mại thông thường. Chính sách này dự kiến áp dụng một số cơ chế ưu đãi như rút gọn thủ tục đầu tư, mở rộng khả năng tiếp cận đất đai, hỗ trợ tín dụng và quy định lợi nhuận định mức đối với chủ đầu tư, đồng thời hạn chế chuyển nhượng trong thời gian nhất định để đảm bảo phục vụ nhu cầu ở thực. Bài viết sử dụng chỉ số HPR cùng các chỉ số bổ trợ như PIR và PT để phân tích khả năng chi trả nhà ở tại Việt Nam, đồng thời đánh giá tác động tiềm năng của chính sách thí điểm nêu trên. Kết quả cho thấy việc phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp là cần thiết, nhưng hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng tạo lập quỹ đất phù hợp, thiết kế hệ thống tín dụng dài hạn và xây dựng cơ chế theo dõi định kỳ các chỉ số khả năng chi trả nhà ở [3]. Trên cơ sở đó, bài viết khuyến nghị một số định hướng chính sách nhằm đưa giá nhà về vùng chi trả phù hợp hơn với thu nhập của hộ gia đình đô thị, góp phần hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường nhà ở Việt Nam.
653 |achính sách nhà ở
653 |aHPR
653 |anhà ở thương mại giá phù hợp
653 |aThị trường nhà ở
7730 |tXây dựng : tạp chí xây dựng Việt nam - Bản quyền thuộc bộ xây dựng|d2026-6-1|gtr.|v2026|i04
890|a0|b0|c1|d0
Không tìm thấy biểu ghi nào