Tác động của thương mại đến phát thải CO, đội tàu biển Việt Nam: Phân tích bằng mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) và kiểm định ổn định cấu trúc
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo phân tích tác động của thương mại đến phát thải CD, của đội tàu vận tải biển Việt Nam thông qua môn hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) kết hợp với các kiểm định ổn định cấu trúc. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu tháng giai đoạn 2019 - 2024 với các biến gồm xuất khẩu, nhập khẩu, tổng mức bán lẻ và phát thải CD,. Kết quả cho thấy tồn tại quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa thương mại, cầu nội địa và phát thải CD, trung vận tải biển, trung khi phản ứng của phát thải trong ngắn hạn tương đối chậm. Kiểm định chẩn đoán cho thấy môn hình có độ ổn định và độ tin cậy phù hợp. Kết quả nghiên cứu gợi ý cần gắn phát triển vận tải biển và thương mại với các chính sách giảm phát thải và chuyển đổi xanh trong ngành Hàng hải.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý rủi ro thiên tai và nước biển dâng đối với hệ thống cảng biển Việt Nam
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo tập trung nhận diện các “khoảng trống" pháp lý trong việc quản lý rủi ro thiên tai và nước biển dâng đối với hệ thống cảng biển Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng gian thoa giữa Bộ luật Hàng hải (BLHH). Luật Phòng, chống thiên tai (PCTT) và các quy định về quy hoạch - xây dựng, nghiên cứu chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa dữ liệu dự bán biến đổi khí hậu (BĐKH) với các tiêu chuẩn kỹ thuật có tính bắt buộc, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm chuyển dịch môn hình quản trị rủi ra từ “phản ứng" ngắn hạn sang “thích ứng chủ động" dài hạn, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao năng lực chống chịu cho hệ thống cảng biển quốc gia.
Thực trạng chuyển dịch xanh của các doanh nghiệp vận tải niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024 Từ khóa:
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Nghiên cứu thực hiện đánh quá trình trình chuyển dịch xanh của các doanh nghiệp (DN) ngành vận tải niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HDSE và HNX tại Việt Nam trong giai đoạn 2020 - 2D24. Thông qua việc hệ thống ID tiêu chí (TC) đánh giá tham khảo dựa trên phương pháp đánh giá chuyển dịch carbon thấp (ACT) của World Benchmarking Alliance (2D23), nghiên cứu tiến hành phân tích nội dung chuyên sâu từ các báo cáo thường niên và báo cáo phát triển bền vững của các DN trong mẫu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch không đồng đều giữa các nhóm ngành. Bằng việc chấm điểm thực chứng khi có hoạt động chuyển dịch xanh trên thang từ I đến 4; ghi nhận điểm D nếu hoàn toàn không có hoạt động nào, bài viết không chỉ cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức độ chuyển dịch xanh của các DN vận tải niêm yết mà còn làm tiền đề khoa học cho các nghiên cứu thực chứng và các đề xuất chính sách liên quan trong tương lai.
Đánh giá những rủi ro trong liên doanh thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức đối tác công tư (PPP)
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong bối cảnh phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam, hình thức đối tác công tư (PPP) được xem là giải pháp hiệu quả nhằm thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Một trong những cấu trúc phổ biến trung triển khai PPP là môn hình liên doanh giữa các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, môn hình này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ra phức tạp liên quan đến phân chia quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ tài chính giữa các bên. Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá các rủi ra phát sinh trung môn hình liên doanh thực hiện dự án giao thông đường bộ theo hình thức PPP tại Việt Nam. Dựa trên khảo sát 135 đối tượng có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực PPP, nghiên cứu đã phân loại hai nhóm rủi ra chính: (I) Rủi ra phân chia quyền lợi và trách nhiệm giữa các bên liên doanh; (2) Rủi ra tài chính và nghĩa vụ bảo lãnh giữa các đối tác. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các rủi ra như "thiếu rõ ràng về vai trò và trách nhiệm", "nghĩa vụ tài chính giữa các bên không rõ ràng và "thiếu cơ chế bảo lãnh tài chính từ Nhà nước" được đánh giá có mức độ rủi ra cao đến rất cao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giảm thiểu rủi ra, bao gồm tăng cường quy định pháp lý về cấu trúc liên doanh, hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ra và bảo lãnh tài chính từ phía Nhà nước.
Chỉ số HPR và chủ trương thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp tại Việt Nam
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong những năm gần đây, giá nhà tại các đô thị lớn của Việt Nam tăng nhanh hơn đáng kể so với thu nhập của người dân, làm suy giảm khả năng tiếp cận nhà ở của nhóm thu nhập trung bình. Theo một số ước tính thị trường, chỉ số HPR (House Price to Incume Ratin) tại Hà Nội và TP.HCM hiện đã vượt mức 30 lần, cao hơn nhiều so với ngưỡng bền vững 3-5 lần thường được khuyến nghị trong các nghiên cứu quốc tế. Điều này cho thấy sự mất cân đối ngày càng rõ giữa giá nhà và năng lực tài chính của hộ gia đình đôn thị [I], [2]. Trong bối cảnh đó. Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý cho Nghị quyết thí điểm phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp nhằm tạo thêm một phân khúc trung gian giữa nhà ở xã hội và nhà ở thương mại thông thường. Chính sách này dự kiến áp dụng một số cơ chế ưu đãi như rút gọn thủ tục đầu tư, mở rộng khả năng tiếp cận đất đai, hỗ trợ tín dụng và quy định lợi nhuận định mức đối với chủ đầu tư, đồng thời hạn chế chuyển nhượng trong thời gian nhất định để đảm bảo phục vụ nhu cầu ở thực. Bài viết sử dụng chỉ số HPR cùng các chỉ số bổ trợ như PIR và PT để phân tích khả năng chi trả nhà ở tại Việt Nam, đồng thời đánh giá tác động tiềm năng của chính sách thí điểm nêu trên. Kết quả cho thấy việc phát triển nhà ở thương mại giá phù hợp là cần thiết, nhưng hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng tạo lập quỹ đất phù hợp, thiết kế hệ thống tín dụng dài hạn và xây dựng cơ chế theo dõi định kỳ các chỉ số khả năng chi trả nhà ở [3]. Trên cơ sở đó, bài viết khuyến nghị một số định hướng chính sách nhằm đưa giá nhà về vùng chi trả phù hợp hơn với thu nhập của hộ gia đình đô thị, góp phần hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường nhà ở Việt Nam.
Nghiên cứu thuật toán lọc và phân cụm mục tiêu trên biển cho hệ thống radar hàng hải Từ khóa:
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày nghiên cứu về ảnh mục tiêu radar hàng hải, trong đó đi sâu vào nghiên cứu thuật toán ước lượng điểm mốc đại diện dựa trên ảnh radar và đề xuất phương pháp sử dụng các tham số chuyển động của các mục tiêu trên biển. Đề xuất một thuật toán để phân lớp toàn bộ ảnh quét radar, tương ứng với giá trị cường độ tín hiệu nằm trong khoảng tín hiệu nhỏ nhất và lớn nhất nhằm tính toán điểm mốc đại diện của mục tiêu trên biển với độ chính xác tương đối. Sai số trung bình bình phương của điểm mốc đại diện ước lượng được so sánh với tín hiệu nhận được lớn nhất theo khoảng cách và phương vị trên màn hình. Trên cơ sở điểm mốc đại diện của mục tiêu và các tham số chuyển động của mục tiêu đề ra phương pháp phân cụm mục tiêu và những đặc trưng của mục tiêu, đề xuất thuật toán bám mục tiêu cải thiện hiệu quả trong việc sử dụng các đặc trưng của mục tiêu phức tạp để nâng cao chất lượng lục bám mục tiêu đa điểm chúi trên biển của radar hàng hải. Phương pháp phân cụm và lục bám mục tiêu sử dụng thuật toán cung cấp sai số trung bình nhỏ nhất khi xác định vị trí mục tiêu theo cự ly và theo phương vị.
Dự báo độ ổn định Marshall của SMA bằng môn hình Rừng cây ngẫu nhiên có sử dụng kỹ thuật tối ưu hóa các siêu tham số
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
SMA là vật liệu được sử dụng phổ biến trong xây dựng đường. đặc biệt là với đường ôn tôn có lưu lượng xe lớn và tải trọng trục nặng. Để thiết kế thành phần và đánh giá chất lượng hỗn hợp SMA cần dựa vào nhiều chỉ tiêu cơ lý, trong đó độ ổn định Marshall (MS) là một chỉ tiêu quan trọng. Bộ dữ liệu sử dụng trang nghiên cứu được thu thập từ thí nghiệm, gồm 144 dữ liệu với 9 biến đầu vào và I tham số đầu ra. Sau quá trình huấn luyện, kiểm tra và tối ưu hóa các siêu tham số, một môn hình Rừng cây ngẫu nhiên tối ưu đã được lựa chọn để dự báo MS của SMA. Mô hình RF đề xuất có khả năng dự báo rất chính xác MS (R2 kiểm tra = 0,9128). Ngoài ra, biểu đồ SHAP cũng được xây dựng để dự báo mức độ ảnh hưởng của các biến đầu vào đối với MS.
Đánh giá khả năng phân loại lớp phủ bề mặt của thuật toán Machine Learning và Deep Learning trên ảnh PlanetScope - Trường hợp nghiên cứu tại phường Long An, tỉnh Tây Ninh
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Khả năng phân loại lớp phủ bề mặt từ ảnh PlanetScape có độ phân giải cao được đánh giá theo hai hướng tiếp cận tiên tiến là thuật toán Random Forest của Machine Learning và LI-Net của Deep Learning, được triển khai trên ArcGIS Pro. Kết quả cho thấy cả hai môn hình đạt độ chính xác cao với RF có độ chính xác toàn cục DA = 0,92, Fl-Scure = 0,92 và Kappa =0,89, trong khi U-Net có DA = 0.94, FI-Score = 0.93 và Kappa = 0.91. Mặc dù mức chênh lệch về độ chính xác không lớn nhưng U-Net thể hiện ưu thế nhất quán trên các chỉ số đánh giá, đặc biệt đối với các lớp có phản xạ trung gian nhờ khả năng khai thác hiệu quả cấu trúc không gian thông qua kiến trúc tích chập sâu. Ngược lại, RF có tính ổn định dựa trên đặc trưng phổ và yêu cầu dữ liệu huấn luyện không lớn, nhưng hạn chế trong xử lý các lớp có sự chồng lấn phổ hoặc cấu trúc không gian phức tạp, qua đó minh chứng tiềm năng của học sâu trong bối cảnh phân loại lớp phủ bề mặt ở khu vực có cấu trúc đô thị không gian phức tạp.
Phân tích ảnh hưởng của biến dạng đàn hồi đến sai lệch động học của cơ cấu hồi nhanh dạng máy bào ngang
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày mô hình hóa và phân tích dao động của cơ cấu máy bàn ngang khi xét đến tính đàn hồi của thanh truyền theo cả phương dục và uốn. Môn hình động lực học được thiết lập bằng phương trình Lagrange dạng nhân tử, trong đó biến dạng được xấp xỉ bằng phương pháp Ritz-Galerkin. Hệ phương trình vi phân-đại số được giải số cho hai trường hợp: cơ cấu rắn và cơ cấu đàn hồi. Kết quả cho thấy môn hình đề xuất phù hợp với phương pháp Newton-Euler trong trường hợp rắn. Khi xét đến đàn hồi, xuất hiện dao động chồng lên chuyển động chính, gây sai lệch rôi rệt tại các vùng đảo chiều. Dao động uốn chiếm ưu thế và ảnh hưởng đáng kể đến đặc tính động lực học của cơ cấu.
|
|
|
|