Nghiên cứu mô hình động lực học, ổn định và tối ưu hóa quỹ đạo chuyển động của cần cầu di động và cần cầu ống lồng: nghiên cứu tổng quanBài báo này trình bày tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong ba thập kỷ gần đây về mô hình động lực học, ổn định và tối ưu hóa quỹ đạo chuyển động của các loại cần cẩu di động và cần cẩu ống lồng. Dựa trên phân tích các công trình tiêu biểu từ Ba Lan, Trung Quốc và Nga, nghiên cứu đã tổng hợp các mô hình toán học, phương pháp mô phỏng và tiêu chỉ ổn định được ứng dụng trong lĩnh vực cơ giới nâng hạ hiện đại. Các hướng tiếp cận bao gồm mô hình động lực học phi tuyển dựa trên phương trình Lagrange, mô hình khí động học của tải trọng dưới tác động của gió, và phương pháp tối ưu hóa quỹ đạo chuyển động nhằm giảm năng lượng và dao động tải. Bài viết cũng thảo luận các xu hướng nghiên cứu mới về điều khiển thông minh, mô phỏng số, tiêu chuẩn hóa an toàn và mô hình học máy trong thiết kế cần cẩu hiện đại.
Nghiên cứu sự dịch chuyên kim loại khi hàn gmaw dưới ảnh hưởng của khí bảo vệ
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của khi bảo vệ đến sự dịch chuyển kim loại trong quá trình hàn hồ quang với điện cực nóng chảy (GMAW) sử dụng dây hàn đặc thông thường. Quá trình hàn được tiến hành với ba loại khi bảo vệ là khi Ar tinh khiết, khi trộn Ar + 20% CO, và 100% CO, tại ba mức dòng điện hàn gồm 220, 250, và 280 A. Khi sử dụng khi bảo vệ Ar tinh khiết, dạng dịch chuyển chuyển dần từ dạng giọt nhỏ sang dạng dịch chuyển phun tia khi dòng điện hàn tăng dần. Trong khi đó, khi hàm lượng CO, trong khi bảo vệ tăng lên mức 20%, dạng dịch chuyển kim loại thay đổi từ dạng giọt lớn sang dạng giọt nhỏ khi dòng hàn tăng từ 220 A tới 280 A. Đối với khi bảo vệ 100% CO,, dạng dịch chuyển kim loại là giọt lớn ở cả ba mức dòng điện được sử dụng. Các quan sát thực nghiệm giúp làm rõ sự khác biệt cơ bản về cơ chế dịch chuyển kim loại dưới ảnh hưởng của khí bảo vệ trong quá trình hàn
Ảnh hưởng của một số thông số chế độ cắt đến độ nhám bề mặt chi tiết hợp kim titan ti-5ai khi tiện CNC
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Các chi tiết cụm con quay được chế tạo bằng hợp kim Titan Ti-5Al, có yêu cầu cao về chất lượng bề mặt. Chất lượng bề mặt được đánh giá thông qua độ nhám bề mặt, phụ thuộc vào các thông số chế độ cắt. Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số chế độ cắt đến độ nhám bề mặt chi tiết hợp kim Titan Ti-5A1 khi gia công trên máy tiện CNC. Từ kết quả thực nghiệm đã xây dựng được phương trình hồi quy biểu thị ảnh hưởng của vận tốc cắt (V), lượng chạy dao (S), chiều sâu cắt (t) tới độ nhám bề mặt khi tiện CNC chi tiết hợp kim Titan Ti-5Al với các hệ số: K = 132,436; a 1,791; a,= 0,0819. Mô hình hồi quy đã được kiểm tra bằng công cụ thống kê toán học với độ tin cậy lớn hơn 98,2%. Mô hình được đề xuất trong nghiên cứu này có thể được ứng dụng để nâng cao chất lượng bề mặt gia công khi tiện CNC chi tiết hợp kim Titan Ti-5A
Nghiên cứu tối ưu thuật toán điều khiển đa robot agv trên phần mềm điều phối tập trung – ROBOT CONTROL SYSTEM
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo nghiên cứu và xây dựng giải pháp tối ưu điều khiển đa robot AGV trên nền tảng điều phối tập trung Robot Control System (RCS). AGV là phương tiện tự hành dùng cho vận chuyển hàng hóa trong kho xưởng, đòi hỏi thuật toán điều hướng chính xác, phân công nhiệm vụ hợp lý và đảm bảo an toàn khi vận hành đồng thời nhiều robot. Nghiên cứu xây dựng ba thuật toán chính: Tìm đường đi ngắn và ít Robot nhất bằng cải tiến thuật toán A*; tính toán phân bổ nhiệm vụ thích ứng theo trạng thái robot; và xây dựng thuật toán tránh va chạm dựa trên dự báo xung đột theo thời gian thực. Các thuật toán được lập trình, mô phỏng trên Python và tích hợp cơ chế truyền thông đa robot để đánh giá tính hiệu quả và khả năng triển khai thực tế
Thiết kế và chế tạo bơm hút khí độc sử dụng cho máy báo độc tự động raid-m100 và máy đo phóng xạ RAID-XP
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Máy báo độc tự động RAID-M100 và máy đo phóng xạ RAID-XP yêu cầu dòng khi hút ổn định và liên tục để bảo đảm độ chính xác của buồng phân tích phổ linh động ion (IMS). Bài báo trình bày quá trình thiết kế và chế tạo bơm hút khi độc kích thước nhỏ, được phát triển nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đặc thù của hai thiết bị trên. Bơm được thiết kế với kết cấu độ kín cao, lưu lượng nhỏ và áp suất hút ổn định, bảo đảm khả năng lấy mẫu khi tin cậy trong điều kiện làm việc liên tục. Nội dung nghiên cứu tập trung vào thiết kế kết cấu, lựa chọn vật liệu, công nghệ chế tạo và đánh giá các thông số làm việc thông qua thử nghiệm. Kết quả cho thấy bơm đạt lưu lượng ổn định, độ rò rỉ thấp và làm việc tin cậy trong dải điện áp và áp suất yêu cầu, đáp ứng đầy đủ điều kiện tích hợp vào thiết bị RAID-M100 và RAID-XP. Kết quả nghiên cứu góp phần chủ động nguồn linh kiện trong nước và nâng cao tính sẵn sàng kỹ thuật của các thiết bị chuyên dụng.
Nghiên cứu tính toán, mô phỏng các chế độ chuyển đổi nguồn điện trên xe ô tô du lịch xăng lại điện TOYOTA COROLLA ALTIS HYBRID 1.8HEV
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong bài báo này, nhóm tác giả trình bày kết quả nghiên cứu mô phỏng các bộ biến đổi nguồn điện trên xe Hybrid Toyota Corolla Altis 1.8HEV, bao gồm bộ chuyển đổi DC-DC từ điện áp pin 201,6V lên điện áp 650V, bộ biến đổi nghịch lưu DC-AC, từ điện áp nguồn DC U sang nguồn xoay chiều 3 pha cấp cho động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu. Bằng phương pháp mô phỏng số trên phần mềm Matlab - Simulink, cho phép tính toán kiểm soát được tốc độ và mô men xoắn trên trục động cơ điện. Kết quả nghiên cứu, mô phỏng giúp người học có cách nhìn tổng quan hơn, đánh giá chính xác hơn về phương pháp điều khiển tốc độ trên xe Hybrid (xăng lai điện) cũng như trên ô tô điện, qua đó có được tư duy khoa học tốt hơn trong công tác tư vấn kỹ thuật, bảo trì bảo dưỡng dòng xe ô tô lai cũng như xe ô tô điện. Đây cũng là cơ sở để thực hiện công tác hỗ trợ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng đào tạo của cán bộ và giảng viên trong ngành công nghệ kỹ thuật ô tô tại Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh cũng như các trường khối kỹ thuật trên toàn quốc.
Ứng dụng xử lý ảnh cho tay máy nhận dạng và gấp vật 3d di chuyển trên băng chuyền
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Ứng dụng xử lý ảnh để nhận dạng vị trí của vật thể đang di chuyển trên băng chuyền và điều khiển tay máy để gắp vật ra để lắp ráp là một trong những ứng dụng rất phổ biến trong công nghiệp hiện nay. Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các ứng dụng đều cho các vật có hình dạng phẳng 2D. Các vật có hình dáng 3D vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, nhất là ở Việt Nam do sự phức tạp trong tỉnh toán và thời gian thực hiện lâu bằng phương pháp truyền thống. Nghiên cứu này trình bày phương pháp có thể tăng năng suất cho một dây chuyền lắp ráp bằng cách nhận dạng và gắp vật 3D đang chuyển động trên băng chuyền sử dụng xử lý hình ảnh và tay máy. Hệ thống bao gồm một camera đặt trên cao để phát hiện vật cần lắp ráp đặt bất kỳ hướng và vị trí trên băng chuyền. Sau đó tọa độ 3D và hướng góc của vật trong tọa độ 3D được tính toán. Các dữ liệu tính toán sẽ được truyền xuống cho tay máy để thực thi tác vụ gắp. Quá trình lắp ráp sẽ được thực hiện dựa trên vị trí và hướng của vật đã biết trước để kiểm tra sai số. Qua thực nghiệm kiểm chứng, độ chính xác cũng như thời gian nhận dạng, hệ thống chứng minh là có khả năng áp dụng vào môi trường công nghiệp lắp ráp giúp tăng năng suất cho hệ thống
Nghiên cứu phương pháp mcdm lại cho việc lựa chọn robot khai thác mỏ dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, những tiến bộ công nghệ đã mở ra nhiều cơ hội to lớn nhằm nâng cao mức độ tự động hóa trong các quy trình sản xuất. Việc tích hợp robot để thay thế lao động con người được xem là một bước phát triển then chốt. Ngày nay, robot đã trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác, tốc độ và khả năng kiểm soát chất lượng trên các dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, sự đa dạng chủng loại robot với các đặc tính khác nhau như tải trọng, tốc độ và chi phi đã khiến việc lựa chọn robot phù hợp cho một ứng dụng cụ thể trở nên khó khăn. Để giải quyết vấn đề này, việc áp dụng các phương pháp ra quyết định đa tiêu chí (Multi-Criteria Decision Making – MCDM) đã nổi lên như một chiến lược hiệu quả nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định. Trong những nghiên cứu gần đây, các kỹ thuật MCDM đã được sử dụng để đánh giá và so sánh robot dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Thông qua việc áp dụng các phương pháp này, các ngành công nghiệp có thể tối ưu hóa quá trình lựa chọn robot, từ đó nâng cao hiệu quả vận hành. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất một phương pháp MCDM lai mới, kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) để xác định trọng số với các phương pháp Additive Ratio ASsessment (ARAS), Complex PRoportional Assessment (COPRAS) và Measurement of Alternatives and Ranking according to Compromise Solution (MARCOS) nhằm đánh giá và xếp hạng robot khai thác mỏ. Phương pháp này xây dựng các trọng số dựa trên ý kiến chuyên gia, đồng thời xem xét tầm quan trọng của việc so sánh cặp các tiêu chí. Kết quả nghiên cứu cho thấy robot số 7 là lựa chọn tối ưu nhất, trong khi robot số 2 được xếp hạng thấp nhất, với sự nhất quản về kết quả trên cả ba phương pháp được đề xuất. Kết quả mang ý nghĩa cung cấp định hướng thiết yếu trong việc giải quyết mạng lưới phức tạp các yếu tố khi lựa chọn robot đáp ứng yêu cầu sản xuất.
Thiết kế, chế tạo và khảo nghiệm hệ thống sấy bơm nhiệt kết hợp thùng quay
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo trình bày kết quả thiết kế, chế tạo và khảo nghiệm máy sấy bơm nhiệt kết hợp thùng quay sấy đậu Hà Lan với năng suất 2kg/mẻ. Trong đó, các thông số kỹ thuật của máy sấy như sau: Thùng sấy có chiều dài 892mm, đường kính 223mm; máy nén lạnh có công suất 1HP sử dụng môi chất lạnh R404A, công suất làm lạnh của dàn lạnh 3kW, công suất giải nhiệt của dàn nóng chính 2,65kW; và dàn nóng phụ có công suất giải nhiệt 1,1kW; Kết quả thực nghiệm không tải cho thấy hệ thống bơm nhiệt hoạt động ổn định với nhiệt độ bay hơi 5,2°C, nhiệt độ ngưng tụ 50,2°C; tác nhân sấy đi vào thùng sấy có nhiệt độ ổn định theo thời gian. Hệ thống thùng quay hoạt động ổn định và có thể điều chỉnh tốc độ. Thực nghiệm sấy đậu Hà Lan có độ ẩm ban đầu tính theo cơ sở ướt là 68,35% (tương đương 2,16 kga/kgVLK theo cơ sở khô) ở điều kiện vận tốc tác nhân sấy là 3m/s, tốc độ thùng quay 8 vòng/phút ở các mức nhiệt độ tác nhân sấy lần lượt là 40, 45, 50, 55, 60°C cho đến khi đạt độ ẩm 13% (tương đương 0,15 kga/kgVLK). Kết quả cho thấy khi tăng nhiệt độ sấy từ 40°C lên 60°C sẽ giúp giảm hơn 50% thời gian sấy và 23,89% lượng năng lượng tiêu thụ. Cụ thể, nhiệt độ sấy là 40°C thì thời gian sấy là 10,35 giờ và lượng điện năng tiêu thụ là 13,77 kWh; nhiệt độ sấy là 50°C thì thời gian sấy giảm còn 6,47 giờ và lượng điện năng tiêu thụ là 12,33 kWh; và khi nhiệt độ sấy tăng lên đến 60°C, thời gian sấy chỉ còn 3,97 giờ và lượng điện năng tiêu thụ là 10,48 kWh. Sản phẩm đậu Hà Lan sau khi sấy trên hệ thống sấy bơm nhiệt thùng quay cho kết quả tốt, giữ được màu sắc và hương vị.
Nghiên cứu ảnh hưởng của góc mở và bè dày phễu lót tới uy lực xuyên thép của đạn lõm quay cỡ 40 MM
(0)
(Lượt lưu thông:0)
(1)
(Lượt truy cập:0)
Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số góc mở và bề dày phễu lót đến uy lực đạn xuyên lõm quay. Nhóm tác giả đã sử dụng mô phỏng 3D bằng phương pháp không lưới SPH trên phần mềm Ansys Autodyn để khảo sát ảnh hưởng của góc mở và bề dày phễu lót đạn xuyên lõm quay. Đối tượng nghiên cứu là đầu đạn xuyên lõm cỡ 40 mm, góc mở phễu lót a gồm năm phương án: 24, 27, 30°, 33° và 36°. Bề dày phễu lót 8 gồm sáu phương án: 0,6 mm, 0,8 mm, 1,0 mm, 1,2 mm, 1,4 mm và 1,6 mm. Mô phỏng số tiến hành với tốc độ quay quanh trục đối xứng của đạn ở hai trường hợp: không quay và quay 10000 vòng/phút. Kết quả mô phỏng số cho thấy khi đạn không quay tồn tại một giá trị tham số thiết kế phễu lót tối ưu, tại đó chiều sâu xuyên của đạn đạt giá trị tối ưu, tương tự ở trường hợp đạn quay 10000 vòng/phút cũng tồn tại một giá trị tham số thiết kế phễu lót tối ưu. Phương pháp nghiên cứu này có thể được sử dụng để tối ưu thiết kế kết cấu đạn lõm quay.
|
|
|
|