|
Dòng
|
Nội dung
|
|
1
|
Chất nghiên cứu phụ gia hấp thụ khí thải cho bê tông xi măng áp dụng cho mặt đường sân bay tại Việt Nam
// Cầu đường Việt Nam tr.
Hiện nay, ô nhiễm không khí do khí thải của các phương tiện giao thông cơ giới, máy bay gây ra tại các sân bay lớn của nước ta như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang ở mức báo động, gây ảnh hưởng lớn tới môi trường và sức khỏe của người dân. Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất loại mặt đường vừa đảm bảo tính năng khai khác tốt nhưng lại có khả năng hấp thụ và phân hủy khí thải cho Việt Nam sẽ có ý nghĩa lớn về môi trường và nâng cao sức khỏe cho người dân. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu phụ gia hấp thụ khí thải cho bê tong xi măng áp dụng cho mặt đường sân bay tại Việt nam" là rất cấp thiết và có tính thời sự để góp phần làm trong sạch bầu không khí cho các thành phố lớn của nước ta như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:0)
|
|
2
|
Ứng dụng mô hình ước tính phát thải và hiệu quả xử lý NOx của mặt đường phủ TiO tại đô thị Hải Phòng
// Xây dựng : tạp chí xây dựng Việt nam - Bản quyền thuộc bộ xây dựng tr.
Ô nhiễm không khí đô thị do giao thông là vấn đề cấp bách, trong đó khí NOx (NO và NO2) đóng vai trò chính trong hình thành khói quang hóa và gây hại sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này nhằm ước tính hiệu quả giảm phát thải NOx khi áp dụng lớp phủ quang xúc tác TiO2 trên mặt đường đô thị, với trường hợp điển hình là tuyến ĐT359 đoạn qua thị trấn Núi Đèo,TP Hải Phòng. Dữ liệu lưu lượng phương tiện thực tế được thu thập và chuẩn hóa sang đơn vị xe con tương đương (PCU) theo TCVN 13592:2022. Hệ số phát thải NOx được tham chiếu từ cơ sở dữ liệu EMEP/EEA (2019) và COPERT v5.7 (2023), áp dụng cho điều kiện đô thị (30 - 50 km/h). Kết quả tính toán cho thấy tổng phát thải NOx trên đoạn 5 km đạt khoảng 440 kg/ngày (tương đương 22.000 g/km-làn/ngày hoặc 5,9 g/m 2 /ngày). Xe máy và xe tải hạng nặng là hai nhóm đóng góp lớn nhất, chiếm lần lượt 41% và 22% tổng phát thải. Khi áp dụng lớp phủ quang xúc tác TiO2, lượng phát thải giảm ước tính 15 - 45%, tương đương 66 - 198 kg/ngày. Các giá trị này phù hợp với kết quả thực địa được báo cáo trong nghiên cứu quốc tế, khẳng định tính khả thi khi áp dụng tại điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng hiệu quả giảm phụ thuộc đáng kể vào tốc độ vận hành, điều kiện chiếu sáng và độ bền vật liệu. Lợi ích môi trường được ghi nhận tương đương 20 - 60 tấn NOx/năm trên đoạn tuyến 5 km, cho thấy lớp phủ quang xúc tác có tiềm năng đóng góp vào mục tiêu phát triển giao thông đô thị xanh. Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở gồm thử nghiệm hiện trường quy mô nhỏ, so sánh hiệu quả giữa các loại vật liệu TiO2 biến tính và áp dụng mô hình phát tán khí để đánh giá tác động đến khu dân cư ven đường.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:3)
|
|
|
|
|