|
Dòng
|
Nội dung
|
|
1
|
Ảnh hưởng của natri sunfat đến cường độ sớm của bê tông và định hướng ứng dụng trong sửa chữa mặt đường ô tô và sân bay
// Cầu đường Việt Nam tr.
Sửa chữa mặt đường ô tô và sân bay thường đòi hỏi thời gian thi công rất ngắn để hạn chế gián đoạn giao thông và mang lại hiệu quả kinh tế. Bài báo đánh giá ảnh hưởng của Natri sunfat (NS) đến sự phát triển cường độ nén (R ), cường độ kéo uốn (Rku) và vận tốc xung siêu âm (V ) của các bê tông sửa chữa (BTSC). Kết quả cho thấy khi sử dụng (1,5-4,5)% NS, Rk của các BTSC tăng khoảng 1,94-2,85 lần ở các thời điểm (9-12) h; tăng khoảng 1,08-1,20 lần ờ các thời điểm từ 24 h-28 ngày, các BTSC chứa (2,5-3,5)% NS thể hiện Rkucao nhất. Trong khi đó, Rn và V của các BTSC đạt được thấp hơn so với Rku. Tất cả các BTSC chứa (1,5-4,5)% NS đều đáp ứng yêu cầu thi công và thông xe trong vòng 24 h; các BTSC chứa (2,5-4,5)% NS có thể đáp ứng yêu cầu thi công và thông xe trong khoảng 12 h
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:0)
|
|
2
|
Ảnh hưởng của nhũ tương nhựa đường đến tính chất cơ hoa của bê tông xi măng - xỉ lò bao dùng cho mặt đường ô tô
// Cầu đường Việt Nam tr.
Bài báo đánh giá ảnh hưởng của nhũ tương nhựa đường (NT) với các hàm lượng 4%, 8%, 12% và 16% đến một số tính chất cơ học của bê tông xi măng chứa xỉ lò cao và định hướng dùng cho mặt đường ô tô. Kết quả cho thấy NT có xu hướng làm giảm cường độ nén (R,) và vận tốc xung siêu âm (V..) của bê tông, bổ sung hàm lượng NT càng nhiều thì R, và Vua giảm càng sâu. Tuy nhiên, sự gia tăng R, và V., theo thời gian của các bê tông chứa NT là tương tự như bê tông đối chứng, điều này cho thấy rằng NT không ngăn cản quá trình thủy hóa của xi măng mà chỉ làm chậm quá trình này. Ngược lại, đối với cường độ kéo uốn (R,) thì thể hiện ứng xử hoàn toàn khác, khi bổ sung hàm lượng NT từ (4-8)%, Ru của các bê tông tăng lên khoảng (3,8-12,9)%; khi bổ sung hàm lượng NT từ (12-16)%, R của các bê tông giảm khoảng (2,9- 14,8)%. Sự gia tăng Rỵ của bê tông dẫn đến cải thiện đáng kể khả năng chịu lực và kéo dài tuổi thọ của mặt đường hoặc cho phép giảm được chiều dày của tấm BTXM mặt đường, giảm chi phí xây dựng và mang lại hiệu quả kinh tế. Trong nghiên cứu này, hàm lượng NT tối ưu là 8%.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:0)
|
|
3
|
|
|
4
|
Ảnh hưởng của tro bay và phụ gia chống thấm WP307 đến cường độ nén và độ chống thấm nước của bê tông xi măng
// Xây dựng : tạp chí xây dựng Việt nam - Bản quyền thuộc bộ xây dựng tr.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tra bay và phụ gia chống thấm WP3D7 đến cường độ nén 28 ngày và khả năng chống thấm nước của bê tông xi măng, định hướng ứng dụng cho kết cấu ngầm giao thông. Chương trình thí nghiệm gồm 9 cấp phối với 3 mức hàm lượng tro bay và 3 mức hàm lượng WP307. Cường độ nén được xác định theo TCVN 3118, trong khi độ chống thấm được đánh giá theo TCVN 311G bằng phương pháp vệt thấm. Kết quả cho thấy trn bay làm giảm nhẹ cường độ nén nhưng cải thiện khả năng chống thấm. WP3D7 có ảnh hưởng rõ rệt hơn đến độ sâu vệt thấm và là yếu tố chi phối chính đối với tính chống thấm của bê tông. Vùng thành phần phù hợp bước đầu được đề xuất là 15 - 20% tro bay kết hợp với 0.3 - 0.6% WP3D7 theo khối lượng chất kết dính.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:3)
|
|
5
|
Ảnh hưởng hàm lượng xỉ lò cao thay thế cho tro bay đến cường độ nén của bê tông Geopolymer
// Xây dựng : tạp chí xây dựng Việt nam - Bản quyền thuộc bộ xây dựng tr.
Bài báo khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ xỉ lò cao thay thế tro bay đến cường độ chịu nén của bê tông Geopolymer. Các mẫu bê tông Geopolymer được chế tạo với các tỷ lệ xỉ lò cao thay thế tro bay là 50%, 75%, 85%, 00%, và 100% và được dưỡng hộ nhiệt (ở mức 1000C trong 4 giờ) và dưỡng hộ tự nhiên (trong phòng thí nghiệm). Thí nghiệm nén được thực hiện trên các mẫu trụ (20 X l0 cm) ở 7 và 28 ngày tuổi. Kết quả cường độ chịu nén cao nhất đạt 32,4 và 25,3 MPa tương ứng với điều kiện dưỡng hô nhiệt và dưỡng hộ tự nhiên cho cấp phối xỉ lò cao thay thế 30% tro bay ở 28 ngày. Mặc dù không đạt được cường độ như mẫu dưỡng hộ nhiệt, mẫu bê tông Genpolymer không dưỡng hộ nhiệt vẫn cho thấy tính khả thi và ổn định về mặt cơ học trong điều kiện môi trường tự nhiên, từ đó thúc đẩy khả năng ứng dụng rộng rãi của loại vật liệu này trong thực tế xây dựng mà không cần phụ thuộc vào thiết bị gia nhiệt. Như vậy, cấp phối bê tông Geopolymer sử dụng tỷ lệ xỉ lò cao thay thế tro bay hợp lý không dưỡng hộ nhiệt có thể là giải pháp phù hợp cho việc thi công các công trình, đảm bảo cường độ chịu nén
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:3)
|
|
|
|
|