|
Dòng
|
Nội dung
|
|
1
|
Mô hình toán thiết kế thuật phóng cho thiết bị bản tập sử dụng nguyên lý phản lực
// Tạp chí cơ khí Việt Nam : Cơ quan của tổng hội cơ khí Việt Nam tr.
Bài báo trình bày mô hình bài toán thiết kế thuật phóng cho các thiết bị bắn tập sử dụng nguyên lý phản lực. Trên cơ sở mô hình toán thiết kế thuật phóng xây dựng, nhóm tác giả tiến hành thiết kế thiết bị bắn tập cho đạn phản lực chống tăng cỡ 105 mm và khảo sát ảnh hưởng của giả trị vận tốc lớn nhất (sơ tốc) v, và khối lượng phần bay của đạn bắn tập m đến sai lệch chiều cao đường đạn và sai lệch chiều cao điểm chạm ứng với các tầm bắn 100m, 200m, 300m. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, để đảm bảo yêu cầu tương đồng về quỹ đạo giữa đạn bắn tập và đạn thật (với sai lệch chiều cao đường đạn và chiều cao điểm chạm lớn nhất là 0,6 m) thì vùng sơ tốc của đạn bắn tập là 232,5-240 m/s. Khi sơ tốc của đạn bắn tập là 240 m/s, thì vùng khối lượng phần bay để sai lêch chiều cao đường đạn và sai lệch chiều cao điểm chạm nhỏ nhất là 0,6-0,7 kg. Kết quả nghiên cứu của bài báo là cơ sở định hướng thiết kế thiết bị bắn tập theo nguyên lý phản lực nói chung, định hướng lựa chọn các tham số kết cấu tối ưu để đảm bảo yêu cầu trùng đường đạn đối với thiết bị bắn tập cho đạn phản lực chống tăng cỡ 105 mm nói riêng.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:0)
|
|
2
|
Nghiên cứu ảnh hưởng của góc mở và bè dày phễu lót tới uy lực xuyên thép của đạn lõm quay cỡ 40 MM
// Tạp chí cơ khí Việt Nam : Cơ quan của tổng hội cơ khí Việt Nam tr.
Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số góc mở và bề dày phễu lót đến uy lực đạn xuyên lõm quay. Nhóm tác giả đã sử dụng mô phỏng 3D bằng phương pháp không lưới SPH trên phần mềm Ansys Autodyn để khảo sát ảnh hưởng của góc mở và bề dày phễu lót đạn xuyên lõm quay. Đối tượng nghiên cứu là đầu đạn xuyên lõm cỡ 40 mm, góc mở phễu lót a gồm năm phương án: 24, 27, 30°, 33° và 36°. Bề dày phễu lót 8 gồm sáu phương án: 0,6 mm, 0,8 mm, 1,0 mm, 1,2 mm, 1,4 mm và 1,6 mm. Mô phỏng số tiến hành với tốc độ quay quanh trục đối xứng của đạn ở hai trường hợp: không quay và quay 10000 vòng/phút. Kết quả mô phỏng số cho thấy khi đạn không quay tồn tại một giá trị tham số thiết kế phễu lót tối ưu, tại đó chiều sâu xuyên của đạn đạt giá trị tối ưu, tương tự ở trường hợp đạn quay 10000 vòng/phút cũng tồn tại một giá trị tham số thiết kế phễu lót tối ưu. Phương pháp nghiên cứu này có thể được sử dụng để tối ưu thiết kế kết cấu đạn lõm quay.
Đầu mục:0
(Lượt lưu thông:0)
Tài liệu số:1
(Lượt truy cập:0)
|
|
3
|
|
|
|
|
|